Luận Án Tiến Sĩ: Sự Phát Triển Của Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ Trong Nền Kinh Tế Đức Những Năm Gần Đây

Luận án tiến sĩ phân tích sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Đức những năm gần đây, đánh giá tác động và xu hướng.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Kinh tế quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ kinh tế

2020

206
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Những công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến luận án

1.2. Nhóm công trình đề cập khuôn khổ lý thuyết của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.3. Nhóm công trình đề cập đến vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.4. Nhóm công trình đề cập đến các nhân tố tác động và chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.5. Nhóm công trình đề cập những vấn đề tồn tại của doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.6. Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài

1.7. Đóng góp của của các công trình đi trước

1.8. Một số vấn đề các công trình trên còn bỏ ngỏ, cần tiếp tục nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

2.1. Lý luận về sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.2. Lý thuyết của Penrose về sự phát triển doanh nghiệp

2.3. Lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp và năng lực động của doanh nghiệp

2.4. Lý thuyết phát triển theo giai đoạn

2.5. Chiến lược cạnh tranh phổ quát của Michael Porter

2.6. Một số vấn đề chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.7. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.8. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.9. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế

2.10. Khái niệm, các tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.11. Khái niệm về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.12. Tiêu chí đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế

2.13. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.14. Khung phân tích sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Đức

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG NỀN KINH TẾ ĐỨC NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

3.1. Tổng quan tình hình về sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Đức

3.2. Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức đầu những năm 2000

3.3. Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới

3.4. Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức trong những năm gần đây

3.5. Đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức

3.5.1. Ưu điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức

3.5.2. Một số vấn đề tồn tại của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức

3.5.3. Những bài học kinh nghiệm từ thực tế phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức

4. CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

4.1. Thực trạng phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Việt Nam

4.2. Sự tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Đức

4.3. Một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Đức

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Đức, chiếm hơn 99% tổng số doanh nghiệp và sử dụng khoảng 60% lực lượng lao động. Các DNVVN ở Đức, thường được gọi là Mittelstand, chủ yếu là các công ty gia đình, chuyên sâu vào một loại sản phẩm cụ thể. Chúng được xem là xương sống của nền kinh tế, đóng góp khoảng 52% GDP và giúp duy trì sự ổn định kinh tế - xã hội. Chính phủ Đức đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ, từ tăng cường tiếp cận tín dụng đến phát triển nguồn nhân lực, nhằm thúc đẩy sự phát triển của khối doanh nghiệp này.

1.1. Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế Đức

DNVVN không chỉ tạo ra việc làm mà còn góp phần giải quyết thất nghiệp, tăng cường tính cạnh tranh và năng động của nền kinh tế. Chúng đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP và xuất khẩu, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chế tạo. Môi trường làm việc tại các DNVVN cũng được đánh giá cao với văn hóa tin tưởng và cam kết cao.

1.2. Chính sách hỗ trợ từ Chính phủ Đức

Chính phủ Đức đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ DNVVN, bao gồm các chương trình tài chính, đào tạo nhân lực, và hỗ trợ thương mại quốc tế. Các chính sách này nhằm đảm bảo quyền lợi và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của DNVVN trong bối cảnh kinh tế ĐứcLiên minh châu Âu.

II. Phát triển DNVVN trong các giai đoạn kinh tế Đức

Sự phát triển của DNVVN trong nền kinh tế Đức được phân tích qua ba giai đoạn chính: giai đoạn đầu những năm 2000, giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới, và giai đoạn gần đây. Mỗi giai đoạn đều có những thách thức và cơ hội riêng, đòi hỏi sự thích nghi và đổi mới của các DNVVN.

2.1. Giai đoạn đầu những năm 2000

Trong giai đoạn này, nền kinh tế Đức phải đối mặt với khủng hoảng lao động và tỷ lệ thất nghiệp cao. Các DNVVN đã đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định nền kinh tế thông qua việc tạo việc làm và duy trì sản xuất.

2.2. Giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới

Trong giai đoạn khủng hoảng, các DNVVN đã chứng minh khả năng thích nghi cao, duy trì hoạt động và đóng góp vào sự phục hồi của nền kinh tế. Chính phủ Đức đã triển khai các gói hỗ trợ tài chính để giúp các DNVVN vượt qua khó khăn.

2.3. Giai đoạn gần đây

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, các DNVVN ở Đức đang chứng kiến sự thay đổi lớn về công nghệ và mô hình kinh doanh. Điều này tạo ra cả cơ hội và thách thức trong việc duy trì sự ổn định và phát triển của nền kinh tế.

III. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Nghiên cứu về sự phát triển của DNVVN trong nền kinh tế Đức cung cấp nhiều bài học kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam. Việc áp dụng các chính sách hỗ trợ hiệu quả và tạo môi trường thuận lợi cho DNVVN phát triển là yếu tố then chốt.

3.1. Chính sách hỗ trợ từ Chính phủ

Việt Nam cần học hỏi từ Chính phủ Đức trong việc triển khai các chính sách hỗ trợ DNVVN, bao gồm tăng cường tiếp cận tín dụng, đào tạo nhân lực, và hỗ trợ thương mại quốc tế.

3.2. Phát triển công nghệ và đổi mới

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam cần thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNVVN để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế đức những năm gần đây

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến luận án 1. Nhóm công trình đề cập khuôn khổ lý thuyết của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việc đưa ra một khái niệm chính xác, thống nhất về DNVVN có vai trò quan trọng trong việc xác định rõ đối tượng cần nghiên cứu. Mặc dù vậy, tiêu chí để đưa ra một định nghĩa chính xác giữa các quốc gia đôi khi vẫn còn nhiều khác biệt.

Về lý thuyết, có thể xác định DNVVN dựa trên tiêu chuẩn định tính và định lượng. Tuy vậy, về mặt thực tế, xác định theo tiêu chuẩn định tính là khá khó khăn; vì vậy, các quốc gia thường chọn tiêu chuẩn định lượng để có thể xác định được các DNVVN. Stokes và Wilson (2010) trong cuốn “Entrepreneurship and Small Business Management” cho rằng xét theo các tiêu chuẩn định tính, DNVVN có các hoạt động và cấu trúc đơn giản hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp lớn, mức độ phức tạp của quản lý không cao cũng như số đầu mối quản lý ít [163]. Cũng trong tác phẩm này, các tác giả đã trích lại báo cáo của Bolton (1971) khi chỉ ra ba tiêu chí cơ bản giúp phân biệt DNVVN với doanh nghiệp lớn.

Theo đó, DNVVN thường được quản lý bởi chính chủ sở hữu doanh nghiệp và doanh nghiệp có thị phần nhỏ trên thị trường. Ngoài ra, DNVVN có tính độc lập cao, cũng như không phải là công ty con hay chịu chi phối bởi các doanh nghiệp lớn khác [64]. Còn tác giả Yon và Evans (2011) trong bài viết “The role of small and medium enterprises in Frontier Capital Markets” đã tổng hợp các yếu tố định tính giúp phân biệt DNVVN với doanh nghiệp lớn, bao gồm: yếu tố về đặc điểm quản lý doanh nghiệp, bằng cấp của nhân viên, vị trí cạnh tranh của 9 doanh nghiệp trên thị trường, mối quan hệ của doanh nghiệp với khách hàng, khả năng nghiên cứu và phát triển và khả năng tài chính [184]. Về cách định nghĩa DNVVN dựa trên tiêu chuẩn định lượng, báo cáo “How Do Economies Define Micro, Small and Medium Enterprises (MSMEs)?” của nhóm tác giả Khrystyna Kushnir, Melina Laura Mirmulstein và Rita Ramalho năm 2010 thuộc Ngân hàng thế giới đã tổng hợp thông tin từ 120 nền kinh tế về tiêu chí để phân loại doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa.

Theo đó các tiêu chí định lượng được các nước sử dụng nhiều nhất để phân biệt bao gồm: số lao động sử dụng, tài sản/ doanh thu/ vốn/ đầu tư và ngành công nghiệp mà doanh nghiệp đó hoạt động. Mặc dù vậy, giữa các quốc gia và khu vực khác nhau trên thế giới vẫn còn nhiều khác biệt trong việc đưa ra tiêu chí để phân loại các mức độ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa [128]. với bài viết “Harmonization process in defining small and medium-sized enterprises. Argument for a quantitative definition versus a qualitative one” đăng trên tạp chí Theoretical and Applied Economics” năm 2013 nhận xét rằng việc thống nhất định nghĩa về DNVVN vẫn là một thách thức đối với các thể chế, tổ chức quốc tế.

Nghiên cứu về định nghĩa DNVVN được ban hành bởi Liên minh châu Âu, Ngân hàng thế giới, OECD hay các định nghĩa được sử dụng ở một số quốc gia khác nhau cho thấy rằng vẫn chưa có một sự đồng thuận về việc tìm đến một định nghĩa chung. Sự không thống nhất về các tiêu chí dùng để phân loại, sự khác biệt về các hoạt động kinh tế và bối cảnh kinh tế của mỗi quốc gia là những yêu tố chính cản trở sự tồn tại của một định nghĩa chung dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ [67]. Báo cáo của OECD xuất bản năm 2001 và được cập nhật vào 2005 cho rằng, quy định phân loại nhóm DNVVN là chưa thống nhất ở nhiều quốc gia và khu vực. OECD cũng viện dẫn rằng tại các nước EU, tiêu chuẩn để được nhìn 10 nhận là DNVVN nếu các doanh nghiệp này có dưới 250 nhân viên.

Tuy vậy, ở một số quốc gia khác lại đặt giới hạn ở mức thấp hơn là dưới 200 nhân viên; trong khi ở Hoa Kỳ coi DNVVN bao gồm các doanh nghiệp có dưới 500 nhân viên. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhỏ nói chung là những doanh nghiệp có ít hơn 50 nhân viên, trong khi các doanh nghiệp siêu nhỏ có nhiều nhất là 10 nhân viên, hoặc trong một số trường hợp là 5 nhân viên. Ngoài ra OECD cũng cho rằng doanh thu cũng là một trong những tiêu chỉ dùng để phân loại xem doanh nghiệp đó có thuộc vào nhóm vừa và nhỏ hay không, tương tự như cách phân loại của các nước EU [143]. Theo báo cáo của Cơ quan thống kê châu Âu (Eurostat) năm 2011, một doanh nghiệp được xếp vào nhóm vừa và nhỏ ở châu Âu nếu như doanh nghiệp đó sở hữu dưới 250 lao động và có doanh thu hàng năm đạt bằng hoặc dưới 50 triệu euro.

Báo cáo cũng phân biệt DNVVN với doanh nghiệp siêu nhỏ khi có dưới 10 lao động và doanh thu từ dưới 2 triệu euro trở xuống, doanh nghiệp lớn khi có từ 250 lao động trở lên và doanh thu đạt trên 50 triệu euro. Những tiêu chi này là vô cùng quan trọng khi có thể giúp phân loại các doanh nghiệp với nhau và đặc biệt là sự phân loại này còn ảnh hưởng đến những chính sách hỗ trợ từ EU với đối tượng là các DNVVN trong khối [92]. Mặc dù vây, là một quốc gia thuộc EU, nhưng Đức lại có cách phân loại khác với khu vực, cụ thể, theo Nils Dahne thuộc Đại học Khoa học Ứng dụng với báo cáo “Introducing German Mittelstand”, Doanh nghiệp được xếp vào nhóm nhỏ và vừa ở Đức hay còn có tên gọi khác là các Mittelstand nếu doanh nghiệp đó có dưới 500 lao động và doanh thu đạt dưới hoặc bằng 50 triệu EUR [142]. Tại Việt Nam, kể từ khi chuyển từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, cụm từ doanh nghiệp vừa và nhỏ đã dần được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế.

Tại Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính Phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, định nghĩa có tính pháp lý về doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được đưa ra. Theo đó, 11 “doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người” [13]. Tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ, định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được quy định cụ thể và chi tiết hơn, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm. Theo đó, doanh nghiệp vừa vả nhỏ trong lĩnh vực “Nông, lâm nghiệp và thủy sản” và “Công nghiệp và xây dựng” có tổng nguồn vốn từ 100 tỷ đồng trở xuống và số lao động từ trên 10 người đến 300 người.

Còn trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, doanh nghiệp vừa và nhỏ được quy định có tổng nguồn vốn từ 50 tỷ đồng trở xuống và số lao động đến hoặc dưới 100 người [7]. Gần đây nhất, ngày 11 tháng 03 năm 2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 39/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Nghị định 56/2009/NĐ-CP trên. Theo đó, các tiêu chí để xác định DNVVN là: “Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy 12 định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này” [8]. Nhóm công trình đề cập đến vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Báo cáo “SME Promotion and Development in Germany: The Role of Business Membership Organizations” của tác giả Albert Over và Jurgen Henkel, xuất bản năm 2013 bởi Tổ chức Sequa gGmbH Đức đã đề cập về vai trò của DNVVN trong nền kinh tế Đức. Theo đó, riêng số lượng đã chiếm tới 99% tổng số doanh nghiệp toàn nước Đức, sử dụng khoảng 80% lao động thường xuyên và là đối tượng đóng góp chính cho GDP quốc gia.

Vì vậy, không quá ngạc nhiên khi Đức trong các chính sách kinh tế của mình đều có rất nhiều chương trình hỗ trợ và biện pháp để thúc đẩy phát triển mạnh khối doanh nghiệp vừa và nhỏ. Báo cáo cũng nhấn mạnh vai trò của tổ chức thành viên doanh nghiệp (BMOs) ở Đức khi nó đại diện cho lợi ích của doanh nghiệp vừa và nhỏ trước các cơ quan nhà nước trong việc thúc đẩy khối này phát triển [53]. Trong báo cáo của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 11, tổ chức tại Argentina năm 2017 đã nhấn mạnh vai trò và đóng góp của các DNVVN đối với nền kinh tế quốc dân. Tại đa số các quốc gia, các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa chiếm một tỷ trọng đáng kể trong nền kinh tế.

Dù ở các quốc gia phát triển hay đang phát triển, các doanh nghiệp này cũng chiếm khoảng hai phần ba tỷ lệ lao động toàn xã hội. Đặc biệt các quốc gia đang phát triển thì các công ty nhỏ còn có thể là phương tiện quan trọng để giúp hòa nhập xã hội, bao gồm cả việc tạo nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Sự Phát Triển Của Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ Trong Nền Kinh Tế Đức Những Năm Gần Đây là một tài liệu chuyên sâu phân tích vai trò và sự đóng góp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) trong nền kinh tế Đức. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các yếu tố thúc đẩy sự phát triển của SMEs, bao gồm chính sách hỗ trợ của chính phủ, sự đổi mới công nghệ, và khả năng thích ứng với thị trường toàn cầu. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách các doanh nghiệp này đã vượt qua thách thức và tận dụng cơ hội để phát triển bền vững, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho các nền kinh tế khác.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam, nghiên cứu về sự phát triển của hệ thống tài chính và ngân hàng. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh giải pháp phát triển hoạt động huy động vốn tại BIDV cung cấp góc nhìn chi tiết về chiến lược huy động vốn hiệu quả. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về tác động của xuất khẩu đến nền kinh tế. Mỗi tài liệu là cơ hội để bạn khám phá thêm những góc nhìn đa chiều và bổ ích.