CHƯƠNG 1 CO SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẺN CỦA VIỆC sử DỤNG so ĐÒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC DẠY HỌC HÓA HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG Lực Tự HỌC CHO HỌC SINH 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề C7 lực 1,1. Năng • • học tự • Trên thế giới vấn đề bồi dưỡng NLTH cho HS đã được quan tâm từ rất sớm. Từ thời Khổng Tử, R.
Sing ở Phương Đông cổ đại hay Socrate ở Phương Tây, đều đề cao vai trò của cá nhân trong quá trình học tập, người học phải tích cực, chủ động trong quá trình học, tự tìm ra kiến thức cho mình. Các ông đều cho rằng trách nhiệm của nhà giáo dục là phải khơi gợi những kiến thức tiềm ấn bên trong mỗi HS, phải dạy cho HS biết cách tự học. [48] Đến thời ki Phục Hưng ở Châu Âu, nhà giáo dục J.A Komenxki (1592-1670), đã nêu ra những PPDH nhằm bồi dưỡng NLTH như xây dựng tạo động cơ để người học có động lực vượt qua những khó khăn, trở ngại trong quá trình chiếm lĩnh tri thức,. Robert Fisher trong tác phẩm Dạy trẻ học đã đưa ra 10 chiến lược rất hiệu quả trong việc hướng dẫn cách học, đặc biệt là bồi dưỡng NLTH cho HS là: tư duy để học, đặt câu hỏi, lập kế hoạch, lập dàn ý, vẽ sơ đồ nhận thức, thảo luận, tư duy đa hướng, học tập hợp tác, kèm cặp, xây dựng cộng đồng tự học rất hiệu quả.
[50] Đến những năm 1960 và 1970, khi các nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến khả năng của con người trong việc học tập và tự học. Các nghiên cứu đầu tiên tập trung vào việc cải thiện NLTH của học sinh và sinh viên, với các phương pháp như tự động hóa học tập, học tập theo nhóm và học tập đa dạng. [50] Từ những nàm 1980, các nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến việc phát triển các công nghệ giúp người học tự học. Các công nghệ này bao gồm máy tính, truyền thông và mạng lưới, và các phương pháp học tập trực tuyến như e-learning, m-learning và b-learning.
Các nghiên cứu tiếp tục tập trung vào việc cải thiện năng lực tự học của học sinh và sinh viên, cũng như việc phát triển các công nghệ hỗ trợ học tập. [52] Như vậy, vấn đề tự học đã được nghiên cứu tương đối sâu tại các công trình nghiên cứu trên. 6 Trong lịch sử phát triên giáo dục ở Việt Nam, năng lực tự học đã được chú trọng và phát triển theo từng giai đoạn: Từ năm 1945 đến 1975: Sau khi độc lập, Việt Nam đã đẩy mạnh phát triển giáo dục và đưa năng lực tự học vào trọng tâm. Nhà nước đã xây dựng các trường học và đưa ra chương trình giáo dục đế giúp học sinh phát triển năng lực tự học.
Việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa như câu lạc bộ, đội nhóm, hội học sinh cũng được khuyến khích để giúp học sinh phát triển kỹ năng tự học và giao tiếp [11]. Từ năm 1975 đến 2000: Trong giai đoạn này, vì hoàn cảnh lịch sử và kinh tế khó khăn của đất nước, giáo dục trở nên khó khăn và thiếu thốn. Tuy nhiên, năng lực tụ' học vẫn được đẩy mạnh thông qua việc tổ chức các hoạt động tự học và tự giáo dục. Các trường đại học cũng đã đưa ra các chương trình đào tạo năng lực tự học và tự quản lý cho sinh viên [11].
Từ năm 2000 đến nay: Trong giai đoạn này, năng lực tự học đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục ở Việt Nam. Trên thực tế, các kết quả nghiên cứu về lí luận dạy học cũng như thực tiễn dạy học ở trường phô thông trong những năm qua đã khẳng định chỉ có phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh, giúp học sinh hình thành phương pháp tự học với động cơ đúng đắn thì quá trình học tập của các em mới đạt được chuẩn đầu ra về tri thức, kỳ năng và thái độ của chương trình đào tạo [11]. Đà có nhiều công trình nghiên cứu với mục đích nâng cao chất lượng DH theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS. Các tác giả đều thống nhất với quan điểm DH phải bao hàm cả dạy TH, bồi dưỡng NLTH, tiêu biểu như Nguyễn Hiến Lê trong tác phẩm “Tự học để thành công”; Đinh Quang Báo với bài viết “TỊr học, tự đào tạo tư tưởng chiến lược trong phát triển giáo dục Việt Nam (Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của tự học trong đào tạo ở bậc đại học)”; Đi cùng với năng lực, cũng có Có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển NLTH của HS đã được công bố như: Vũ Mạnh Dũng (2014), Phát triển năng lực tự học của Học sinh trong dạy học sự điện li- Hoá học 11 - Trung học phổ thông; Nguyễn Văn Đại, Đào Thị Việt Anh, Vũ Quốc Trung (2020) - Thực trạng vấn đề tự học, phát triển năng lực tự học và vận dụng mô hình blended learning trong dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông; Vương cẩm Hương, Lê Thị Đặng Chi 7 (2023) - Vận dụng phương pháp dạy học hợp đồng nhằm phát triển nãng lực tự học Hóa học cho học sinh lớp 11 ở trường trung học phổ thông .Các công trình trên đều đưa ra các vấn đề liên quan đến NL tự học, xây dựng và phát triển các hệ thống tiêu chí cho NL tự học và các công cụ giúp HS hình thành NL tự học.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức đối với việc phát triển năng lực tự học ở Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh công nghệ và khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng. So' đồ tư duy Trong quá trình dạy học, GV có thế sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để hình thành và phát triển năng lực tự học cho HS trong đó, phải kể tới kỹ thuật SĐTD. SĐTD là một phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệu quả trong việc hệ thống kiến thức, trình bày ý tưởng, kế hoạch hoạt động trên cơ sở các mối quan hệ liên quan theo nội dưng. Trong dạy học, SĐTD được coi là kỹ thuật dạy học tích cực có nhiều khả nãng trong việc phát triển các năng lực cần thiết cho HS đặc biệt là năng lực tự học và đang được quan tâm sử dụng ở các môn học, là một công cụ hữu ích để trực quan hóa ý tưởng và quá trình tư duy.
Nó được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như giáo dục, kinh doanh, khoa học và công nghệ. Trên thế giới nghiên cứu về SĐTD đã được đề cập đến từ rất sớm: Năm 1921, nhà tâm lí học Mỹ Edward Thorndike đã đưa ra ý tưởng về sơ đồ tư duy đầu tiên trong cuốn sách của ông “The Teache’s Word Book”. Trong cuốn sách này ông đã đề xuất một ý tưởng mới về sơ đồ tư duy, còn được gọi là "sơ đồ hình thành". Ông mô tả sơ đồ tư duy như một biếu đồ đơn giản, ghi lại các mối liên hệ giữa các khái niệm hoặc thông tin.
Sơ đồ tư duy được sử dụng để giúp người học hiếu và tố chức thông tin một cách rõ ràng và logic. Cuốn sách của Thorndike đã đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giáo dục và trở thành một tài liệu quan trọng trong giáo dục Mỹ vào thời điếm đó. Ý tưởng về sơ đồ tư duy của ông đã được phát triển và ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau, từ giáo dục đến kinh doanh và công nghệ thông tin [8]. Năm 1958, nhà tâm lý học Mỹ Allan Collins và Mỹ Ross Quillian đã phát triển một hệ thống sơ đồ tư duy cho các thuật ngữ trong ngôn ngữ tự nhiên.
Được gọi là "mạng liên kết khái niệm" (Conceptual Linkage Network). Mạng liên kết khái niệm bao gồm một loạt các nốt (node) đại diện cho các khái niệm và các liên 8 kết giữa các nốt đại diện cho các mối liên hệ giữa các khái niệm, được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như xử lý ngôn ngữ tự nhiên, trí tưệ nhân tạo và học máy. Năm 1960 nhà tâm lý học Mỹ Joseph Novak đã phát triển sơ đồ tư duy “Concept Map” để tăng cường việc học tập và ghi nhớ. Concept Map thường được sử dụng trong giáo dục và nghiên cứu khoa học để trực quan hóa các mối liên hệ giữa các khái niệm và ý tưởng, bao gồm các ô và các mũi tên đế biếu thị các mối quan hệ giữa các khái niệm.
[7] Năm 1972, nhà tâm lý học Mỹ Tony Buzan đã phát triến phương pháp sơ đồ tư duy “MindMap” để giúp con người tận dụng khả năng tư duy của não bộ. MindMap thường được sử dụng trong việc tạo ra các kế hoạch, quản lý dự án và tư duy sáng tạo, bao gồm một ô trung tâm đại diện cho nội dung chính và các nhánh chính xung quanh ô trung tâm đại diện cho các ý tưởng phụ. Mind Map thường bắt đầu với một ý tưởng chính hoặc một từ khóa được viết ở giữa trang giấy. Từ đó, các ý tưởng và thông tin liên quan được viết xung quanh ý tưởng chính và được kết nối với nó thông qua các đường thẳng hoặc hình dạng khác nhau.
Mind Map sử dụng nhiều hình dạng và màu sắc khấc nhau để giúp người dùng tạo ra các sơ đồ tư duy đầy màu sắc, sinh động và dễ nhớ. Nó cũng cho phép người dùng tăng cường khả năng ghi nhớ và tập trung bằng cách sử dụng các từ khóa, hình ảnh và biểu tượng. Mind Map đã được ứng dụng rộng rãi trong giáo dục, kinh doanh và cuộc sống cá nhân để giúp người dùng tồ chức thông tin, nâng cao sự sáng tạo và tăng cường khả nàng tư duy [3]. Năm 1983, David Ausubel đà phát triển một hệ thống sơ đồ tư duy để giúp học sinh xây dựng kiến thức mới dựa trên kiến thức cũ, gọi là "sơ đồ thuần nhận thức" (Advance Organizer) [1].
Năm 1991, phần mềm sơ đồ tư duy đầu tiên được ra mắt với tên gọi Inspiration. Phần mềm này cho phép người dùng tạo ra các sơ đồ tư duy bằng cách sử dụng các hình dạng, ký hiệu, biếu tượng và màu sắc khác nhau. Inspiration cung cấp các công cụ để tạo ra các danh sách, bảng biểu, lời giải thích và các tài liệu khác và cung cấp tính năng như sửa đổi kích thước, di chuyền và kết nối các phần tử trong sơ đồ tư duy một cách dễ dàng. Phần mềm Inspiration đã trở thành một công cụ hữu ích cho giáo viên, học sinh và các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực.