CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NẢNG Lực NHẬN THỨC HÓA HỌC CHO HỌC SINH 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về nhận thức vả năng lực nhận thức a. Nghiên cứu trên thế giới: Theo [5], vấn đề nhận thức và năng lực nhận thức (NLNT) của con người đã được các nhà triết học cố đại quan tâm và nghiên cứu từ những thế kí Vĩ - V trước công nguyên.
Triết học cổ Hy lạp đã xem xét đến nguồn gốc của khái niệm nhận thức và xác định khái niệm này được ghép từ hai từ là tri thức (Gnosis) và lời nói (Logos). Như vậy các vấn đề về nhận thức của con người đã được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Đến nhừng năm 40 của thế kỉ XIX, triết học Mác - Lenin đã chỉ rõ quá trình nhận thức của con người là “quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, trên cơ sở thực tiễn”. Từ quan điểm này, các nghiên cứu về nhận thức của con người đã quan tâm, tìm hiểu để làm rõ bản chất của quá trình này.
Weinert [39] (1999) đã nghiên cứu về năng lực và đề xuất 9 phương pháp tiếp cận NL trong đó NLNT được quan tâm đặc biệt. Từ năm 2001 đã có thêm nhiều công trình nghiên cứu về NLNT. Nghiên cứu của các tác giả w. R và các cộng sự [40] đã đề xuất về phân loại đối tượng, nội dung nhận thức của con người dựa trên sự tăng dần về mức độ trừu tượng hoá trong nhận thức của họ.
Các tác giả này không chỉ nghiên cứu NLNT dựa trên tri thức mà còn nghiên cứu cả quy trình nhận thức. Quy trình nhận thức được mô tả theo mức độ khó tăng dần của hoạt động nhận thức của con người. Quy trình này gồm các hành động: Ghi nhớ (Remember) - Hiểu (Understanding) - Áp dụng (Apply) - Phân tích (Analyze) - Đánh giá (Evaluate) - Sáng tạo (Create). Từ đó các nghiên cứu về quá trình nhận thức của con người đã được nghiên cứu và vận dụng trong dạy học như các nghiên cứu về quá trình nhận thức học tập của HS, các lí thuyết học tập (lí thuyết nhận thức, lí thuyết kiến tạo - tương tác, lí thuyết nhân văn.), các quan điềm dạy học, PPDH mới được ra đời.
Các lí thuyết học tập, quan điểm dạy học ngày càng hoàn thiện và được vận dụng ờ nhiều nước trên thế giới. Các nghiên cứu ờ Việt Nam Với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và đào tạo từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận NL, ngành giáo dục nước ta đã tập trung xây dựng nội dung, đối 6 mới PPDH nhằm phát triển phẩm chất, các NL chung, NL chuyên biệt cho HS, trong đó NLNT được quan tâm đặc biệt. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về dạy học phát triến NLNT cho HS ở các môn học được đăng tải trên các Tạp chí chuyên ngành. Tác giả Đặng Văn Hồ và Đặng Thị Thuỳ Dương [20], đã đề xuất 4 biện pháp phát triển NLNT cho HS trong dạy học môn Lịch sử gồm: Sử dụng đồ dung trực quan, vận dụng dạy học nêu vấn đề, tồ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo và vận dụng kiến thức liên môn.
Tác giả Quách Nguyễn bảo Nguyên [27], đề xuất xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập định hướng phát triến NL trong dạy học vật lí đế phát triển NLNT cho HS. Tác giả Nguyễn Thị Hà [17] đã xác định nguyên tắc và quy trình vận dụng quan hệ nhân quả để phát triển NLNT cho HS trong môn Sinh học. Trong dạy học hoá học, nghiên cứu về phát triển NLNT cho HS đã được cố giáo sư Nguyễn Ngọc Quang [30] quan tâm, nghiên cứu. Òng đã nghiên cứu về quá trình nhận thức học tập hoá học của HS; Các biện pháp và PPDH được sử dụng để phát triển NLNTHH và các mức độ đánh giá NL học tập của HS.
Đây là các công trình nghiên cứu mang tính định hướng cho các nghiên cứu về phát triền NLNTHH tiếp theo. Tác giả Vũ Minh Trang [34], nghiên cứu vận dụng dạy học phân hoá để phát triển NLNTHH cho HS. Tác giả Nguyễn Thu Hiền f 19], nghiên cứu xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập chương Crom, sắt, Đồng - Hoá học 12 nâng cao nhằm phát triển NLNT cho HS. Tác giả Bùi Thị Thu Hà (2021) với đề tài “Phát triển năng lực nhận thức hóa học cho học sinh thông qua dạy học chương Cacbon - Silic, Hóa học 11 theo hướng tiếp cận STEM” [18].
Đề tài đã xây dựng một số chủ đề dạy học, kế hoạch dạy học theo tiếp cận STEM nhằm phát triển NLNTHH cho HS và thiết kế bộ công cụ đánh giá NLNTHH của HS. Như vậy, các nghiên cứu đã tập trung vào các biện pháp phát triển NLNTHH cho HS trong dạy học hoá học theo chương trình môn học nãm 2006. Nghiên cứu về bài tập hoá học phát triển năng lực Bài tập hóa học (BTHH) là một công cụ không thể thiếu trong quá trình dạy học môn Hóa học, phù hợp với dạy học định hướng phát triển nàng lực. Có nhiều luận văn, bài báo đăng trên các Tạp chí khoa học của các tác giả đã nghiên cứu về sử dụng BTHH định hướng phát triển năng lực trong dạy học đề phát triển một số NL chung, NL đặc thù môn học.
7 Các luận văn của các tác giả: Nguyền Thị Thu [32], Đặng Thị Thanh Giang [14] Vương Thế Thành [31]; Trần Thị Huế [23] đã nghiên cứu về xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH trong dạy học một số chương trong chương trình hoá học (năm 2006) để phát triển NL giải quyết vấn đề, NL vận dụng kiến thức kĩ năng vào thực tiễn cho HS. Các tác giả cũng đã chú ý đến các dạng BTHH gắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn. Đồng thời cũng có nhiều bài báo khoa học nghiên cứu về vấn đề sử dụng BTHH định hướng phát triến năng lực trong dạy học hoá học đăng trên các tạp chí chuyên ngành của các tác giả như: Ngô Ngọc Mai [26]; Nguyễn Ngọc Duy [11]; Nguyễn Đức Dũng [12]; Trần Thị Huế [23]; Hoàng Thị Thuý Hương [24]; Lưu Thị Lương yến [37]. Các tác giả đều tập trung nghiên cứu vấn đề xây dựng và sử dụng BTHH trong dạy học như sử dụng phối họp với các PPDH tích cực để phát triển các NL chung (NL giải quyết vấn đề, NL vận dụng kiến thức, kĩ nàng, NL khoa học), NL hoá học cho HS.
Đồng thời các tác giả đã thiết kể các bộ công cụ để đánh giá sự phát triến của các NL nghiên cứu thông qua sử dụng BTHH định hướng phát triển NL cho HS. Như vậy, việc nghiên cứu biện pháp phát triển NLNTHH cho HS theo các chủ đề của chương trình môn Hoá học mới (2018) cần được kế thừa và nghiên cứu tiếp tục. Vấn đề phát triển NLNTHH thông qua sử dụng BTHH chủ đề Nitrogen và Sulfur - Hóa học 11 là một trong những vấn đề nghiên cứu đang được nhiều GV quan tâm. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài chúng tôi lựa chọn là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay.
Quá trình thực hiện đề tài có sự kế thừa và phát triển từ các công trình nghiên cứu đã công bố. Khái quát chung về năng lực và năng lực nhận thức hóa học 1. Khái niệm năng lực và năng lực nhận thức hóa học • Oe o e e • 1. Khái niệm về năng lực Ngày nay, có nhiều định nghĩa về NL dựa trên nhiều góc độ và quan điểm khác nhau.
Theo từ điền tâm lí học (Vũ Dũng, 2008) “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều khiển bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định. Weinert [39] định nghĩa “ Năng lực là những kỹ năng, kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tinh huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt.” 8 Trong nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm NL được đề cập trong Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể cùa Bộ GD & ĐT (2018) [2]: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập rèn luyện, cho phép con người huy động tổng họp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loạt hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Khái niệm về năng lực nhận thức hỏa học Trong Bủt kỷ triết học, V.
Lênin [5] đã cho rằng, con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, thực tại khách quan là đi “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Như vậy, nhận thức là một quá trình biện chứng, diễn ra qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) và nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng). Quá trình nhận thức và tư duy có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và NLNT được xác định là NL trí tuệ của con người. Nàng lực nhận thức tập hợp toàn bộ kỹ năng, tri thức, khả năng và hành vi của bản thân nhằm đáp ứng cho quá trình nhận thức.
Tất cả đều xuất phát từ trong chính cơ thể và nào bộ của mồi người. Những người có khả năng nhận thức cao sẽ tích luỹ được nhiều kiến thức và kinh nghiệm hơn, điều này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cuộc sống của họ. Từ nhừng cơ sở trên, chúng tôi xác định: NLNTHH là khả năng hiểu biết, nắm vững kiến thức, kĩ năng hoá học và vận dụng chúng đế giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề học tập và thực tiễn đời Sống có liên quan đến hoá học. Đặc điểm và cấu trúc chung của năng lực Từ khái niệm NL ta có thề thấy NL có những đặc điẻm cơ bản sau: + Năng lực là sự kết họp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập và rèn luyện của người học.
+ Năng lực là kết quả huy động tồng hợp của kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí. + Năng lực được hình thành, phát triển thông qua hoạt động và thế hiện ở sự thành công trong hoạt động thực tiễn.