mở đầu, câu kết thúc truyện, ở phong cách ngôn ngữ thơ ca pha tạp không thuần nhất, khi thì Hán khi thì Nôm, khi thì bình dân khi thì trang trọng. Và “đáng chú ý là truyện Nôm của người Việt dần dần đã thâm nhập vào cả truyện thơ Tày - Nùng, để tạo nên những truyện thơ mang dáng dấp của truyện Nôm, hay nói đúng hơn là chịu ảnh hưởng của truyện Nôm cả về mặt cấu trúc tư tưởng lẫn cấu trúc nghệ thuật” [54; 104]. Tiếp theo, Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số của Lê Trường Phát (1997). Ở công trình này chúng tôi nhận thấy ông đã tiến hành khảo sát theo nhiệm vụ khoa học của mình.
Ông nghiên cứu trên 6 truyện thơ Thái và 14 truyện thơ Tày - Nùng. Một điểm khác biệt nổi trội trong chuyên luận này là ông đã đặt truyện thơ các dân tộc thiểu số trong bối cảnh truyện thơ của các nước Đông Nam Á (Lào, Camphuchia, Thái Lan.) để so sánh, phân tích đưa ra các kết luận vừa thú vị vừa mang tính khoa học như: Mô hình kết cấu cốt truyện kết thúc có hậu (với ba chặng: Gặp gỡ - Tai biến - Đoàn tụ) không phổ biến cho kiểu kết cấu cốt truyện của truyện thơ các dân tộc thiểu số trong nền đại hòa sắc tộc của các nước Đông Nam Á. Theo ông thì: “Mô hình kết thúc bi kịch mới là phổ biến, nó có tỉ lệ lấn át có những trường hợp thì cách kết thúc này giữ vị trí độc tôn (100%) như truyện thơ của dân tộc Mường; dân tộc Chăm. Còn riêng với truyện thơ Tày - Nùng theo tác giả khảo sát và kết luận trùng với kết luận của Kiều Thu Hoạch “Kết thúc có hậu chiếm tỉ lệ lấn át” [131; 87].
Ông đã lí giải điều này: Sở dĩ có sự kết thúc khác nhau giữa nhóm truyện thơ Tày - Nùng với truyện thơ Mường - Chăm là do vai trò tham gia sáng tạo của các Nho sĩ, thầy đồ người Việt miền xuôi lên, họ mang theo ảnh hưởng của truyện Nôm Việt vào truyện thơ Tày. Nhưng mục đích quan trọng mà công trình này hướng tới là nhằm khảo sát phương diện về hình thức nghệ thuật, phương diện tạo thành nghệ thuật về mặt thể loại như chính tác giả tự giới hạn. Và sau quá trình 10 năm khảo sát, nghiên cứu một cách công phu đầy tâm huyết, chuyên luận khoa học với đề tài Truyện thơ Tày - Nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại của Vũ Anh Tuấn (2004) đã ra đời. Đây là một công trình nghiên cứu một cách hệ thống về nguồn gốc thể loại truyện thơ Nôm Tày dựa trên cơ sở hiện thực xã hội, nguồn gốc nội sinh, ngoại sinh trong quá trình phát triển và tiếp biến của nền văn hóa tộc người.
Từ đó, tác giả xác lập quá trình phát triển của truyện thơ Tày, nêu lên giả thiết về lược đồ của quá trình phát triển đó. Sau cùng, tác giả phân tích thi pháp của thể loại truyện thơ Tày qua những đặc 12 điểm thi pháp cấu trúc, nhân vật và lời văn nghệ thuật trong truyện thơ Tày. Công trình này được khá nhiều học giả đánh giá cao và ghi nhận những đóng góp lớn lao của Vũ Anh Tuấn trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam. Có thể nói, hệ thống lí luận của các tác giả trong các chuyên luận sẽ gợi ý cho chúng tôi nghiên cứu cốt truyện, nhân vật, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong Tum Tiêu và Vượt biển.
Cùng nghiên cứu về lí luận truyện thơ từ góc độ văn học nó còn được các học giả quan tâm như: Cuốn Văn hóa Tày Nùng của Lã Văn Lô và Hà Văn Thư (1984) trong chương 3: Văn học nghệ thuật truyền thống, có phần viết về Truyện thơ Nôm khuyết danh, học giả Hà Văn Thư đã liệt kê tên một số truyện thơ Nôm Tày - Nùng khuyết danh như: Slam Péc - Anh Tài, Nam Kim - Thị Đan, Kim Quế, Chim sáo, Khảm hải, Lưu Đài - Hán Xuân, Trần Chu - Quyển Vương, Quảng Tân - Ngọc Lương. Và một số truyện cổ dân gian của người Việt được dịch ra thơ Tày như: Phạm Tải - Ngọc Hoa, Tống Trân - Cúc Hoa. Tiếp đó, tác giả đi đến giới thiệu nội dung một số truyện thơ Nôm khuyết danh Tày - Nùng theo 2 loại: 1) Gồm các truyện có kết cấu đơn giản, đậm tính chất dân gian, thường mượn những cốt truyện dân gian như: Slam Péc - Anh Tài, Nam Kim - Thị Đan; 2) Gồm những truyện có kết cấu phức tạp hơn, trình bày có tình tiết hơn, mang tính tiểu thuyết hơn, như: Lưu Đài - Hán Xuân, Tần Chu - Quyển Vương. Và trong bộ Tổng tập văn học Việt Nam (2000), trọn bộ 42 tập, có chỉnh lí và bổ sung, trong đó tập 39 do nhóm: Đặng Nghiêm Vạn chủ biên; Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu, Lục Văn Pảo sưu tầm, biên soạn (Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia xuất bản), có giới thiệu 2 tác phẩm của dân tộc Tày là: Pú Lương Quân (chỉ có phần tóm tắt nội dung, tuyển theo bản dịch kể của hai ông Lã Văn Lô và Lê Bình Sự trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 65/1964), truyền thuyết Chín chúa tranh vua dài 1.
Trong Chữ Nôm Tày và truyện thơ do Triều Ân chủ biên (Trung tâm Nghiên cứu Quốc học xuất bản, 2003). Các tác giả đã bước đầu tìm hiểu thời điểm xuất hiện truyện thơ Nôm Tày và tiến hành phân loại nguồn gốc truyện thơ Nôm Tày. Trong cuốn sách Tử Thư - Văn Thậy do Hà Thị Bình dịch và giới thiệu (Nxb Khoa học Xã hội, 2005). Bên cạnh việc giới thiệu phần phiên âm và dịch thơ truyện Tử Thư - Văn Thậy, tác giả đã tiến hành phân tích một số vần đề về nội dung và một số yếu tố nghệ thuật của loại truyện thơ này.
Đặc biệt trong bài viết Dẫn luận mang tiêu đề Quá trình sưu tầm, nghiên cứu truyện thơ các dân tộc thiểu số được in trong Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 21 sau đó in lại trong cuốn Một nhận thức mới về văn học dân gian Việt Nam của Nguyễn Xuân Kính (Nxb Khoa học Xã hội, 2006) cũng đã phân tích dựa trên những thành tựu của các nghệ nhân, nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu về truyện thơ để có cái 13 nhìn khái quát về tình hình sưu tầm và nghiên cứu truyện thơ. Qua đó, Nguyễn Xuân Kính còn góp phần làm rõ vấn đề “chung quanh các khái niệm “truyện thơ” và ‘truyện thơ các dân tộc thiểu số” [62; 542]. Những luận điểm trên là những gợi ý khá hay để chúng tôi xem xét nghiên cứu về sự hình thành văn bản của Tum Tiêu và Vượt biển. Các công trình nghiên cứu truyện thơ đăng tải trên các tạp chí khoa học, trong đó có thể kể đến: Bài Đọc sách Nôm Tày Tần Chu của tác giả Hiền Lương đăng trên Tạp chí Hán Nôm (số 1/1989).
Bài viết Về tác phẩm truyện thơ Tày - Nùng Lưu Đài - Hán Xuân của Nguyễn Minh Tuân, bước đầu giới thiệu tác phẩm Lưu Đài - Hán Xuân thông qua việc tìm hiểu đôi nét về nội dung cơ bản của tác phẩm và một vài đặc điểm của việc sử dụng chữ Nôm Tày trong văn bản. Trong đó, ở phần nội dung của tác phẩm, tác giả bài viết tiến hành khảo cứu khái quát nội dung tác phẩm ba văn bản Lưu Đài - Hán Xuân. Ở phần tiếp theo của bài viết, tác giả nêu một số loại chữ Nôm Tày được sử dụng trong tác phẩm này như: chữ Nôm Tày dùng nguyên chữ và âm Hán Việt, nhưng không dùng đến nghĩa của chữ; chữ Nôm Tày dùng nguyên chữ, âm và nghĩa Hán Việt; chữ Nôm Tày dùng nguyên chữ Hán đọc chệch âm Hán Việt, không dùng theo nghĩa của chữ; chữ Nôm Tày sáng tạo; chữ Nôm Tày dùng nguyên chữ Nôm Việt cả ba mặt chữ - âm - nghĩa; chữ Nôm Tày dùng nguyên chữ Nôm Việt có bị biến đổi về âm đọc. Trong bài viết Về mô hình cốt truyện của truyện thơ các dân tộc thiểu số của Lê Trường Phát đăng trên Tạp chí Văn học (số 7/1997).
Đây là một bài viết chuyên sâu về thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số. Bài viết Tìm hiểu đôi nét về truyện thơ Nôm Tày - Nùng Tọong Tương của tác giả Trần Thị Thu Hường đăng trên Tạp chí Hán Nôm (số 3/2004) lại đi sâu tìm hiểu văn bản truyện thơ Nôm Tày này trên các phương diện: tác giả, văn bản tác phẩm, thể loại, nội dung và giá trị của tác phẩm. Đây là hai bài viết mang tính khảo cứu khá kĩ về hai tác phẩm truyện thơ Nôm Tày - Nùng là Tọong Tương và Lưu Đài - Hán Xuân. Với bài viết Tìm hiểu yếu tố đạo giáo trong một số truyện thơ Nôm Tày - Nùng đăng trên Tạp chí Hán Nôm (số 1/2009), Nguyễn Minh Tuân sơ lược đề cập đến các yếu tố Đạo giáo trong một số truyện thơ Nôm Tày như: Nhân Lăng, Kim Quế, Chiêu Đức, Lưu Đài Hán Xuân, Đính Quân, Quảng Tân Ngọc Lương, Tần Chu.
Ở đây, tác giả đã tìm hiểu về cấu trúc, cách thức xây dựng nhân vật; không gian hoạt động của các truyện thơ trên. Qua đó, tác giả cho người đọc thấy rõ hơn tư tưởng độc đáo mà Đạo giáo đã thâm nhập và ảnh hưởng vào truyện thơ Nôm Tày - Nùng. Có thể thấy, truyện thơ Nôm Tày luôn nhận được sự quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu của nhiều học giả trong khoảng thời gian hơn nửa thế kỉ qua. Các công trình trên hầu hết đã đạt được nhiều thành tựu rất đáng khích lệ, song so với kho tàng truyện thơ Nôm Tày phong phú về số lượng, đa dạng về nội dung thì số lượng truyện thơ Nôm Tày 14 từng được biên dịch mới chỉ chiếm khoảng chưa đầy 1/3 số lượng truyện thơ hiện có.
Bên cạnh đó, một phần không nhỏ những truyện thơ đã được biên dịch và công bố có sự lặp lại về số lần xuất bản, số lần tuyển dịch hoặc trích dịch. Do đó, một bộ phận không nhỏ truyện thơ Nôm Tày vẫn còn trong tình trạng nguyên bản, chưa được biên dịch và nghiên cứu. Thêm nữa, phần lớn các bản dịch truyện thơ Nôm Tày thường chỉ cung cấp bản dịch thơ tiếng Việt, một số còn lại được cung cấp thêm cả bản phiên âm tiếng Tày, nhưng những bản in kèm cả nguyên bản chữ viết Nôm Tày là rất ít, trong đó tiêu biểu phải kể đến công trình Tổng tập truyện thơ Nôm các dân tộc thiểu số Việt Nam do Viện Nghiên cứu Hán Nôm tổ chức biên dịch (Nxb Khoa học Xã hội, đã xuất bản được 8 tập).