Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "So sánh Luật Hợp đồng dân sự giữa Việt Nam và Trung Quốc" được thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (thuộc Bộ Tư pháp và Bộ Giáo dục và Đào tạo), chuyên ngành Luật Dân sự (mã số: 62 38 30 01), hoàn thành năm 2010. Công trình được triển khai dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đinh Văn Thanh và TS. Bùi Đăng Hiếu.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia có nhiều nét tương đồng về bối cảnh lịch sử, văn hóa, chính trị, kinh tế và hệ thống pháp luật. Trong giai đoạn hiện đại, cả hai nước đều xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cùng chia sẻ quan điểm "cùng chung lý tưởng, cùng chung sự nghiệp, cùng chung vận mệnh". Thể chế pháp luật xã hội chủ nghĩa là một mô hình mới, đòi hỏi quá trình liên tục hoàn thiện và đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp trong thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật.
Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ hợp đồng đóng vai trò là quan hệ pháp luật cơ bản của lưu thông hàng hóa và dịch vụ, giữ vị trí trung tâm trong hệ thống pháp luật dân sự và kinh tế. Quá trình chuyển đổi kinh tế đòi hỏi cả hai quốc gia phải không ngừng cải cách, hiện đại hóa chế định hợp đồng. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án thực hiện, các công trình chuyên khảo pháp lý chuyên sâu của các học giả Trung Quốc chưa được dịch sang tiếng Việt một cách hệ thống, và chưa có công trình nào đối chiếu, so sánh toàn diện toàn bộ các thiết chế pháp lý về hợp đồng giữa hai nước. Việc nghiên cứu so sánh pháp luật hợp đồng Việt Nam - Trung Quốc nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm lập pháp, chỉ ra những điểm tương đồng, dị biệt và nguyên nhân của chúng là đòi hỏi cấp thiết của khoa học pháp lý.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 5 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích bản chất pháp lý của hợp đồng trong khoa học pháp lý Việt Nam và Trung Quốc.
- Phân tích nội dung các quy định về hợp đồng trong hệ thống pháp luật Việt Nam và pháp luật Trung Quốc.
- Phân tích sự giống nhau và khác biệt trong các quy định về hợp đồng của hai nước.
- Phân tích nguyên nhân dẫn đến những điểm tương đồng và khác biệt đó.
- Đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hợp đồng của Việt Nam và Trung Quốc.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ hệ thống quy định pháp luật thực định, các quan điểm học thuật, học thuyết pháp lý và thực tiễn xét xử liên quan đến chế định hợp đồng dân sự tại Việt Nam và Trung Quốc (bao gồm khái niệm, nguyên tắc, giao kết, hiệu lực, nội dung, hình thức, thực hiện, bảo toàn và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng).
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu đối chiếu hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; phạm vi thời gian bao quát tiến trình lịch sử phát triển pháp luật hợp đồng của hai nước, trọng tâm là các văn bản pháp luật hiện hành tại thời điểm nghiên cứu (Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005, Luật Hợp đồng Trung Quốc năm 1999, Nguyên tắc chung của Luật Dân sự Trung Quốc năm 1986).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu tại Trung Quốc
Tác giả đã tổng hợp và phân tích các công trình nghiên cứu chuyên khảo tiêu biểu của giới học giả luật học Trung Quốc:
- Chuyên khảo "Nghiên cứu luật hợp đồng" của Vương Lợi Minh (học giả luật dân sự tại Trung Quốc đại lục): Nghiên cứu toàn diện các chế định từ lý luận chung, thành lập, nội dung, hình thức, hiệu lực, thực hiện, bảo toàn, biến đổi, chuyển nhượng, chấm dứt đến trách nhiệm vi phạm hợp đồng.
- Chuyên khảo "Luật hợp đồng" của Lưu Khải Hương (Nhà xuất bản Pháp chế Trung Quốc, 2006): Phân tích lý luận chế định hợp đồng, các thiết chế thực tiễn trong đời sống hiện đại của Trung Quốc kết hợp phân tích các án lệ cụ thể.
- Chuyên khảo "Luật hợp đồng" của Lý Khai Quốc (Nhà xuất bản Pháp luật Trung Quốc): Phân tích có hệ thống các quan điểm của luật gia trong nước và quốc tế về từng vấn đề thuộc chế định hợp đồng.
Tác giả chỉ ra rằng các công trình trên của Trung Quốc chưa được dịch sang tiếng Việt để phục vụ giới nghiên cứu trong nước.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
Tác giả điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước theo 4 nhóm chuyên đề chính:
- Nhóm nghiên cứu chung về hợp đồng dân sự:
- Nguyễn Mạnh Bách, Pháp luật về hợp đồng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.
- Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật dân sự Việt Nam, NXB Trẻ TP. Hồ Chí Minh.
- Đinh Thị Mai Phương, Thống nhất luật hợp đồng ở Việt Nam, NXB Tư pháp, 2005.
- Nguyễn Ngọc Khánh, Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam, NXB Tư pháp, 2007.
- Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Pháp luật về hợp đồng dân sự, kinh tế, thương mại - Những điểm tương đồng và khác biệt, Kỷ yếu hội thảo khoa học, 2005.
- Luận văn thạc sĩ của Trần Hải Hưng về Đổi mới sự điều chỉnh pháp luật về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2005.
- Luận văn thạc sĩ của Trần Kim Chi (1996) về Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng dân sự.
- Luận văn thạc sĩ của Hoàng Minh Chiến (2003) về Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh — những vấn đề lý luận và thực tiễn.
- Nhóm nghiên cứu về hiệu lực của hợp đồng:
- Luận án tiến sĩ của Lê Thị Bích Thọ về Hợp đồng kinh tế vô hiệu.
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Cường về Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu.
- Nhóm nghiên cứu về giao kết hợp đồng:
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hằng Nga (2004) về Giao kết hợp đồng trong kinh doanh một số vấn đề lý luận và thực tiễn.
- Luận án tiến sĩ của Vi Thị Thanh Tâm (2007) về Giao kết trục lợi trong nền kinh tế thị trường ở nước ta và những giải pháp pháp lý nhằm hạn chế, khắc phục.
- Luận văn thạc sĩ của Vi Đức Lịch (2010) về Một số vấn đề cơ bản về giao kết hợp đồng dân sự trong pháp luật Việt Nam.
- Nhóm nghiên cứu về trách nhiệm hợp đồng:
- Luận văn thạc sĩ của Đinh Hồng Ngân (2007) về Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn
Phần lớn các công trình tại Việt Nam tập trung phân tích nội luật hoặc so sánh với pháp luật của các quốc gia phương Tây. Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu là việc thiếu vắng một công trình so sánh toàn diện, đối chiếu đa chiều giữa pháp luật hợp đồng Việt Nam và Trung Quốc – hai quốc gia có sự tương đồng đặc thù về thể chế chính trị và mô hình kinh tế chuyển đổi. Luận án đảm nhận vai trò chuyển tải có hệ thống các luận điểm khoa học của các học giả Trung Quốc sang môi trường học thuật Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Lý luận về khế ước và nguồn gốc lịch sử: Tiếp cận nguồn gốc của hợp đồng từ Luật La Mã cổ đại (khái niệm trái quyền, tính tương đối của nợ - Alteri stipulari nemo potest, nguyên tắc ex stipulatu actio), sự tiếp nhận và phát triển qua hệ thống Dân luật châu Âu lục địa (Civil Law) của Pháp, Đức; ảnh hưởng của mô hình pháp luật Xô Viết đối với các nước xã hội chủ nghĩa.
- Học thuyết về bản chất hợp đồng vì lợi ích người thứ ba: Vận dụng ba học thuyết lý giải địa vị pháp lý của người thứ ba gồm: (1) Thuyết sang nhượng quyền lợi; (2) Thuyết đại lý; (3) Thuyết quyền trực tiếp sinh ra (chia thành hành vi đơn độc, hành vi đồng thời và thuyết hợp đồng).
- Lý thuyết về nguồn pháp luật: Sử dụng phân loại của John Chipman Gray giữa "Pháp luật" (The law) và "Nguồn của pháp luật" (The sources of the law), bao gồm nguồn chính thức (formal sources) và nguồn không chính thức (informal sources) để đánh giá giá trị pháp lý của tập quán giao dịch và giải thích tư pháp.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu pháp lý truyền thống:
- Phương pháp phân tích: Áp dụng mổ xẻ từng điều khoản của Bộ luật Dân sự 2005 (Việt Nam) và Luật Hợp đồng 1999, Dân pháp thông tắc 1986 (Trung Quốc), làm rõ tính hợp lý, bất cập và các quan điểm học thuật liên quan.
- Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa các quan điểm lý luận đa chiều của các học giả hai nước về các thiết chế hợp đồng.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu từng nội dung tương ứng trong quy định pháp luật của Việt Nam và Trung Quốc, chỉ ra các điểm tương đồng và dị biệt.
- Phương pháp biện chứng lịch sử: Đặt các quy định pháp luật vào tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, thể chế chính trị của mỗi nước qua từng thời kỳ để lý giải nguồn gốc và nguyên nhân của sự khác biệt.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam: Hiến pháp 1992, Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Dân sự 2005, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991, các văn bản thời kỳ Pháp thuộc (Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883, Dân luật Bắc Kỳ 1931, Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật 1936).
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Trung Quốc: Hiến pháp, Nguyên tắc chung của Luật Dân sự (Dân pháp thông tắc 1986), Luật Hợp đồng 1999, Luật Hợp đồng lao động, Luật Hôn nhân và Gia đình, các văn bản giải thích tư pháp của Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc.
- Điều ước quốc tế: Công ước Viên năm 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG).
- Sách chuyên khảo, giáo trình, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và tạp chí chuyên ngành của Việt Nam và Trung Quốc.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về hợp đồng dân sự
Chương này tập trung làm rõ khái niệm, phân loại, mối quan hệ giữa hợp đồng dân sự với các loại hợp đồng khác, lịch sử phát triển và nguồn của chế định hợp đồng tại hai nước.
Khái niệm và đặc điểm pháp lý
- Tại Trung Quốc: Khái niệm hợp đồng tồn tại theo nghĩa rộng (bao gồm cả quan hệ quyền tài sản, quyền nhân thân như hôn nhân) và nghĩa hẹp (chỉ quan hệ trái quyền/quyền nợ). Đa số học giả và văn bản lập pháp dùng nghĩa rộng. Điều 85 Dân pháp thông tắc định nghĩa hợp đồng là thỏa thuận xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự. Điều 2 Luật Hợp đồng 1999 quy định hợp đồng là thỏa thuận xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ quyền và nghĩa vụ giữa công dân, pháp nhân và tổ chức khác.
- Tại Việt Nam: Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005 định nghĩa: "Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự". Bản chất pháp lý là giao dịch dân sự song phương hoặc đa phương, phân biệt với hành vi pháp lý đơn phương.
Phân loại hợp đồng dân sự
Luận án chỉ ra sự khác biệt: Tại Trung Quốc, các tiêu chí phân loại chủ yếu nằm trong lý luận của các học giả chứ chưa được thể chế hóa toàn bộ vào văn bản luật; trong khi tại Việt Nam, Điều 406 và 407 BLDS 2005 trực tiếp liệt kê các loại hợp đồng chủ yếu.
| Tiêu chí phân loại |
Pháp luật Trung Quốc |
Pháp luật Việt Nam (BLDS 2005) |
| Quyền và nghĩa vụ |
Hợp đồng song vụ và đơn vụ |
Hợp đồng song vụ và đơn vụ (Điều 406.1, 406.2) |
| Tính chất đền bù |
Hợp đồng có đền bù và không đền bù |
Luôn đền bù, luôn không đền bù, có thể đền bù hoặc không |
| Thời điểm phát sinh hiệu lực |
Hợp đồng ưng thuận và thực tế (Hợp đồng hứa tặng là ưng thuận, gửi giữ kho bãi là ưng thuận, bảo quản là thực tế) |
Hợp đồng ưng thuận và thực tế (chưa có điều khoản phân loại tổng quát, thể hiện qua các điều khoản cụ thể như tặng cho động sản tại Điều 466 là thực tế) |
| Hình thức giao kết |
Hợp đồng hình thức và không hình thức |
Hợp đồng miệng (Điều 404.3), văn bản, hành vi cụ thể (Điều 124.1) |
| Sự phụ thuộc hiệu lực |
Hợp đồng chính và hợp đồng phụ |
Hợp đồng chính và hợp đồng phụ (Điều 406.3, 406.4; Điều 410) |
| Tên gọi trong luật |
Hợp đồng hữu danh (15 loại trong Luật HĐ 1999) và Hợp đồng vô danh |
Hợp đồng thông dụng (12 loại tại Chương XVIII) và Hợp đồng hỗn hợp |
| Lợi ích người thứ ba |
Quy định tại Điều 64, 65 Luật HĐ 1999 |
Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba (Điều 406.5) |
| Điều kiện hiệu lực |
Hợp đồng có điều kiện (Điều 45 Luật HĐ 1999, Điều 62 Dân pháp thông tắc) |
Giao dịch/Hợp đồng có điều kiện (Điều 125, Điều 406.6) |
Mối quan hệ giữa hợp đồng dân sự với các loại hợp đồng khác
- Với hợp đồng kinh tế: Trung Quốc đã bãi bỏ thuật ngữ "hợp đồng kinh tế" sau khi ban hành Luật Hợp đồng thống nhất năm 1999 (chấm dứt hiệu lực của 3 đạo luật riêng rẽ thời kỳ 1980 gồm Luật Hợp đồng kinh tế, Luật Hợp đồng kinh tế đối ngoại, Luật Hợp đồng công nghệ). Tại Việt Nam, BLDS 2005 đã thống nhất khái niệm hợp đồng, xóa bỏ sự phân tách song song giữa hợp đồng kinh tế (Pháp lệnh HĐKT 1989) và hợp đồng dân sự (BLDS 1995).
- Với hợp đồng lao động: Trung Quốc coi Luật Lao động và Luật Hợp đồng lao động thuộc ngành Luật Xã hội độc lập, tách rời khỏi Luật Hợp đồng (thuộc tư pháp), dù các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng vẫn được tham chiếu. Tại Việt Nam, phạm vi hợp đồng trong BLDS rộng hơn.
- Với thỏa thuận hôn nhân (hôn ước): Cả hai nước đều loại trừ các quan hệ nhân thân thuần túy ra khỏi luật hợp đồng tài sản, điều chỉnh bằng Luật Hôn nhân và Gia đình.
Lịch sử phát triển chế định hợp đồng
- Tại Việt Nam: Thời kỳ phong kiến (Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long) không có quy định riêng về hợp đồng, tranh chấp xử lý theo tập tục và quyền uy của quan lại. Thời kỳ Pháp thuộc xuất hiện Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883, Dân luật Bắc Kỳ 1931, Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật 1936. Sau năm 1945: Sắc lệnh 90/1945 tạm áp dụng luật cũ; Chỉ thị 172-CT/TATC (1959) đình chỉ luật cũ; ban hành Điều lệ tạm thời HĐKT 1960, Nghị định 54/CP 1975. Sau Đổi mới 1986: Pháp lệnh HĐKT 1989, Pháp lệnh HĐDS 1991, Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2005.
- Tại Trung Quốc: Trải qua giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa cao độ với các văn bản hợp đồng kinh tế mang tính chỉ huy, đến thập niên 1980 ban hành 3 luật hợp đồng rời rạc, và hợp nhất thành Luật Hợp đồng thống nhất năm 1999.
Nguồn của chế định hợp đồng
- Cấu trúc nguồn: Trung Quốc ban hành văn bản riêng là Luật Hợp đồng 1999 bên cạnh Dân pháp thông tắc 1986; đồng thời thừa nhận vai trò thực tế của các bản Giải thích tư pháp của Tòa án nhân dân tối cao. Ngược lại, Việt Nam tích hợp chế định hợp đồng thành một bộ phận hữu cơ cấu thành trong Bộ luật Dân sự (Phần thứ ba về Nghĩa vụ dân sự và Hợp đồng dân sự, Phần thứ năm về chuyển quyền sử dụng đất).
- Vấn đề tập quán: Cả hai nước đều không coi tập quán giao dịch là nguồn pháp luật chính thức mang tính quy phạm độc lập, mà xem tập quán là công cụ hỗ trợ để giải thích hợp đồng hoặc bổ sung các kẽ hở khi các bên không thỏa thuận và luật không quy định (Điều 61, 125 Luật Hợp đồng Trung Quốc; Điều 3, 409 BLDS 2005 Việt Nam).
Chương 2: Các nguyên tắc cơ bản của chế định hợp đồng
- Khái niệm và phân loại nguyên tắc: Phân biệt nguyên tắc cơ bản (chuẩn mực chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ chế định hợp đồng, như nguyên tắc tự do giao kết, bình đẳng, tự nguyện) và nguyên tắc cụ thể (áp dụng cho từng khâu, từng giai đoạn riêng biệt, như nguyên tắc thực hiện thực tế, nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại).
- Hệ thống nguyên tắc tại Trung Quốc: Phân tích các nguyên tắc được xác lập trong Dân pháp thông tắc và Luật Hợp đồng 1999: bình đẳng về địa vị pháp lý, tự nguyện/tự do ý chí, công bằng, bảo đảm chữ tín (trung thực, thiện chí), hợp pháp và tôn trọng đạo đức xã hội.
- Hệ thống nguyên tắc tại Việt Nam: Phân tích các nguyên tắc quy định tại Chương II Phần thứ nhất và Điều 389 BLDS 2005: tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái pháp luật và đạo đức xã hội; tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và cam kết chịu trách nhiệm.
- So sánh và xu thế phát triển: Cả hai nước đều chịu ảnh hưởng của xu thế phát triển pháp luật hợp đồng hiện đại: mở rộng quyền tự do ý chí của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường, đồng thời tăng cường sự can thiệp hợp lý của nhà nước để bảo vệ bên yếu thế, duy trì trật tự kinh tế công cộng và bảo đảm tính trung thực, thiện chí trong giao dịch.
Chương 3: Trình tự giao kết hợp đồng dân sự
- Lý luận chung: Giao kết hợp đồng là quá trình các bên bày tỏ và thống nhất ý chí để làm phát sinh hiệu lực pháp lý ràng buộc.
- Trình tự giao kết tại Trung Quốc: Phân tích các giai đoạn đề nghị giao kết hợp đồng (offer) và chấp nhận đề nghị giao kết (acceptance); các quy định về rút lại, thu hồi đề nghị và chấp nhận; trách nhiệm tiền hợp đồng (culpa in contrahendo) theo quy định của Luật Hợp đồng 1999.
- Trình tự giao kết tại Việt Nam: Phân tích quy định của BLDS 2005 về đề nghị giao kết hợp đồng, thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị, sửa đổi đề nghị, rút lại và hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng.
- So sánh: Đối chiếu thời điểm hợp đồng được coi là thành lập (thời điểm giao kết giữa các bên vắng mặt, qua đường bưu điện hoặc phương tiện điện tử); phân tích sự tương đồng khi cả hai nước đều tiếp thu các chuẩn mực chung của Công ước CISG 1980 trong việc xây dựng quy trình đề nghị và chấp nhận giao kết.
Chương 4: Hiệu lực của hợp đồng dân sự
- Lý luận chung về hiệu lực: Hiệu lực pháp luật là giá trị ràng buộc mang tính cưỡng chế của hợp đồng đối với các bên sau khi giao kết hợp pháp.
- Điều kiện có hiệu lực: Phân tích các điều kiện về chủ thể (năng lực hành vi dân sự), ý chí (hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa, ép buộc), nội dung và mục đích (không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội) và hình thức (trong các trường hợp luật định) theo pháp luật Việt Nam (Điều 122 BLDS 2005) và pháp luật Trung Quốc.
- Hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu quả pháp lý: So sánh các trường hợp hợp đồng vô hiệu tuyệt đối và hợp đồng vô hiệu tương đối (có thể hủy bỏ); thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu; hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu (hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bồi thường thiệt hại, xử lý tài sản thu lợi bất hợp pháp).
Chương 5: Nội dung và hình thức của hợp đồng
- Tổng quan về nội dung: Nội dung hợp đồng là tổng hợp các điều khoản xác định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia.
- Nội dung hợp đồng theo luật hai nước: Phân loại điều khoản chủ yếu, điều khoản thông thường, điều khoản tùy nghi; quy định về hợp đồng theo mẫu, điều khoản miễn trừ trách nhiệm không công bằng và việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong pháp luật Việt Nam và Trung Quốc.
- Hình thức của hợp đồng: So sánh các hình thức giao kết được pháp luật hai nước công nhận (lời nói, văn bản, văn bản có công chứng/chứng thực, đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, và hình thức thông qua thông điệp dữ liệu điện tử); giá trị pháp lý và hậu quả khi vi phạm quy định về hình thức.
Chương 6: Thực hiện hợp đồng dân sự và sự bảo toàn hợp đồng
- Lý luận chung về thực hiện hợp đồng: Thực hiện hợp đồng là việc các bên tiến hành các hành vi nhằm hoàn thành các nghĩa vụ và hiện thực hóa các quyền đã cam kết.
- Quy định thực hiện hợp đồng tại Trung Quốc và Việt Nam: Phân tích các nguyên tắc thực hiện đúng đối tượng, địa điểm, thời hạn, phương thức; nghĩa vụ thực hiện đồng thời; quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ khi bên kia không có khả năng thanh toán.
- Bảo toàn hợp đồng: Phân tích các biện pháp bảo toàn quyền yêu cầu của chủ nợ theo pháp luật Trung Quốc (như quyền đại vị của chủ nợ và quyền thu hồi/hủy bỏ hành vi tẩu tán tài sản của con nợ) trong sự đối chiếu với các quy định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong pháp luật Việt Nam.
Chương 7: Trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng
- Tổng quan về trách nhiệm hợp đồng: Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng là các biện pháp cưỡng chế pháp lý áp dụng đối với bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
- Các hình thái hành vi vi phạm: Phân tích hành vi không thực hiện nghĩa vụ, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ, chậm thực hiện hoặc vi phạm nghĩa vụ trước thời hạn.
- Lý do miễn trách nhiệm: So sánh các căn cứ miễn trách nhiệm trong luật Trung Quốc và Việt Nam, bao gồm: sự kiện bất khả kháng, lỗi của bên bị vi phạm, và các thỏa thuận miễn trách nhiệm hợp pháp của các bên.
- Hình thức trách nhiệm vi phạm: Đối chiếu các chế tài tài phán và chế tài tự bảo vệ được pháp luật hai nước áp dụng:
- Buộc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng (thực hiện thực tế).
- Phạt vi phạm hợp đồng (điều kiện áp dụng, mức phạt).
- Bồi thường thiệt hại (nguyên tắc xác định thiệt hại thực tế, trực tiếp, tổn thất lợi ích dự tính).
- Tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng và xử lý tài sản đặt cọc.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Làm rõ bản chất và phạm vi hợp đồng: Luận án hệ thống hóa và làm rõ sự khác biệt trong phạm vi điều chỉnh của hợp đồng giữa hai nước: Việt Nam có phạm vi điều chỉnh rộng hơn (bao hàm cả một số quan hệ lao động và giao dịch dân sự phức hợp), trong khi Trung Quốc tách biệt hợp đồng lao động sang ngành Luật Xã hội độc lập.
- Đối chiếu có hệ thống khung phân loại và cấu trúc nguồn: Luận án phân tích tính chỉnh thể của BLDS Việt Nam (tích hợp toàn bộ chế định hợp đồng và quyền sử dụng đất vào bộ luật) so với mô hình ban hành Luật Hợp đồng riêng biệt tại Trung Quốc; làm rõ xung đột giữa Luật Hợp đồng 1999 và Dân pháp thông tắc 1986 tại Trung Quốc.
- Lý giải địa vị pháp lý người thứ ba: Phân tích sâu Điều 64 và 65 Luật Hợp đồng Trung Quốc và Điều 406.5 BLDS 2005 Việt Nam, chỉ ra các hạn chế trong việc xác lập quyền yêu cầu độc lập của người thứ ba dưới lăng kính của các học thuyết pháp lý cổ điển và hiện đại.
Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị
- Kiến nghị đối với Trung Quốc: Cần sớm xúc tiến soạn thảo và ban hành một Bộ luật Dân sự thống nhất của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tích hợp Dân pháp thông tắc, Luật Hợp đồng, Luật Vật quyền và các đạo luật dân sự đơn lẻ nhằm giải quyết các mâu thuẫn nội tại giữa các văn bản pháp luật hiện hành.
- Kiến nghị đối với cả hai nước:
- Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa các quy định của chế định hợp đồng nhằm tương thích với sự vận động của nền kinh tế thị trường.
- Bổ sung và hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh các hình thức giao dịch mới, đặc biệt là các quy định về hợp đồng điện tử.
- Khắc phục các điều khoản bất cập trong kỹ thuật lập pháp (như điểm vướng mắc tại Khoản 2 Điều 410 BLDS 2005 của Việt Nam liên quan đến mối quan hệ hiệu lực giữa hợp đồng chính và biện pháp bảo đảm khi hợp đồng chính bị vô hiệu).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án được hoàn thành vào năm 2010, căn cứ chủ yếu trên các văn bản pháp luật thực định thời kỳ đó (Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 và Luật Hợp đồng Trung Quốc năm 1999 trước khi Trung Quốc thông qua Bộ luật Dân sự năm 2020 và Việt Nam thông qua BLDS 2015). Một số tài liệu chuyên khảo tiếng Trung chưa có bản dịch chính thức sang tiếng Việt nên việc tiếp cận dựa trên việc tự dịch thuật và tổng thuật của tác giả.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu so sánh tiến trình pháp điển hóa dân sự toàn diện (quá trình ban hành Bộ luật Dân sự thống nhất); nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế giữa doanh nghiệp Việt Nam - Trung Quốc; mở rộng nghiên cứu về hợp đồng điện tử và hợp đồng thông minh trong kỷ nguyên kinh tế số.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị về pháp luật dân sự và kinh tế Trung Quốc đã được chuyển ngữ và phân tích có hệ thống; cung cấp khung phương pháp luận về so sánh luật học chuyên ngành dân sự.
- Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy môn Luật So sánh, Luật Dân sự, Luật Thương mại quốc tế.
- Đối với cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp các luận cứ khoa học và bài học kinh nghiệm lập pháp từ Trung Quốc để phục vụ công tác rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành liên quan tại Việt Nam.
- Đối với cơ quan xét xử, luật sư và doanh nghiệp: Hỗ trợ nhận diện chính xác các quy tắc pháp lý, tập quán giao dịch và cách thức giải thích hợp đồng khi tham gia đàm phán, ký kết và giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự, thương mại giữa các chủ thể Việt Nam và Trung Quốc.
Câu hỏi thường gặp
1. Pháp luật Trung Quốc và Việt Nam quy định khác nhau như thế nào về khái niệm và vị trí của hợp đồng kinh tế?
Ở Trung Quốc, sau khi ban hành Luật Hợp đồng năm 1999, khái niệm "hợp đồng kinh tế" đã chính thức bị bãi bỏ; mọi giao dịch kinh tế, thương mại đều được quy về một khái niệm thống nhất là hợp đồng và chịu sự điều chỉnh của Luật Hợp đồng. Tại Việt Nam, trước năm 2005 tồn tại song song Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 và BLDS 1995; nhưng từ khi Bộ luật Dân sự 2005 có hiệu lực, chế định hợp đồng đã được thống nhất áp dụng chung cho mọi lĩnh vực kinh tế, thương mại và dân sự.
2. Sự khác biệt căn bản trong cấu trúc nguồn pháp luật hợp đồng giữa Việt Nam và Trung Quốc là gì?
Ở Việt Nam, chế định hợp đồng là một bộ phận hữu cơ cấu thành trong Bộ luật Dân sự (tập trung tại Phần thứ ba và Phần thứ năm về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất). Ở Trung Quốc, hợp đồng được điều chỉnh bởi một đạo luật riêng biệt là Luật Hợp đồng năm 1999 bên cạnh Dân pháp thông tắc năm 1986; ngoài ra các văn bản Giải thích tư pháp của Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc đóng vai trò thực tế như một nguồn bổ trợ quan trọng.
3. Tập quán giao dịch có được coi là nguồn chính thức của Luật Hợp đồng ở hai nước không?
Không. Cả hai nước theo truyền thống Dân luật lục địa coi nguồn chính thức là các văn bản quy phạm pháp luật thành văn. Tập quán giao dịch (theo Điều 61, 125 Luật Hợp đồng Trung Quốc và Điều 3, 409 BLDS 2005 Việt Nam) chỉ được sử dụng làm căn cứ giải thích từ ngữ khó hiểu hoặc bổ sung vào các điều khoản còn thiếu sót, chưa rõ ràng mà các bên không có thỏa thuận khác và pháp luật không quy định cụ thể.
4. Vấn đề phân loại hợp đồng tặng cho tài sản có điểm gì khác nhau giữa hai nước?
Theo pháp luật Trung Quốc (Điều 185 Luật Hợp đồng 1999), hợp đồng hứa tặng tài sản mang tính chất là hợp đồng ưng thuận (chỉ cần sự thỏa thuận thống nhất ý chí là hợp đồng phát sinh hiệu lực). Ngược lại, theo pháp luật Việt Nam (Điều 466 BLDS 2005 về tặng cho động sản), hợp đồng tặng cho mang tính chất là hợp đồng thực tế (chỉ phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "So sánh Luật Hợp đồng dân sự giữa Việt Nam và Trung Quốc" là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Luật Dân sự, thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2010. Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử, cấu trúc nguồn và các thiết chế pháp lý trọng yếu của chế định hợp đồng trong pháp luật Việt Nam và Trung Quốc. Thông qua việc phân tích và đối chiếu đa chiều, tác giả đã làm rõ các điểm tương đồng, dị biệt và căn nguyên pháp lý của hai hệ thống, đồng thời chuyển tải các quan điểm học thuật giá trị của Trung Quốc vào môi trường khoa học pháp lý Việt Nam. Công trình đóng góp nhiều luận cứ thực tiễn phục vụ công tác hoàn thiện pháp luật hợp đồng và đẩy mạnh nghiên cứu so sánh luật học giữa hai quốc gia.