Luận văn so sánh đối tượng chứng minh theo luật tố tụng hình sự VN-Nga

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích so sánh quy định về đối tượng chứng minh trong tố tụng hình sự giữa Việt Nam và Liên bang Nga năm 2014.

Chuyên ngành

Luật hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2014

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách so sánh đối tượng chứng minh tố tụng hình sự VN Nga

Việc so sánh đối tượng chứng minh tố tụng hình sự Việt Nam và Liên bang Nga mang lại giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc. Trong bối cảnh cải cách tư pháp, việc tham khảo mô hình pháp lý của các quốc gia có hệ thống luật thành văn phát triển như Nga giúp Việt Nam hoàn thiện quy định về đối tượng chứng minh – yếu tố then chốt xác định tính khách quan và công bằng trong quá trình tố tụng. Theo luận văn thạc sĩ của Vũ Xuân Thao (2014), đối tượng chứng minh không chỉ là nội dung cần làm rõ trong vụ án mà còn phản ánh triết lý pháp lý của từng hệ thống. Tại Việt Nam, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 (sửa đổi 2015) quy định tại Điều 86 về những vấn đề phải chứng minh, trong khi Bộ luật Tố tụng Hình sự Liên bang Nga (2001, sửa đổi nhiều lần) tiếp cận theo hướng cụ thể hóa hơn với nguyên tắc “bất khả xâm phạm quyền im lặng” và “trọng tâm vào tội phạm và người phạm tội”. Sự khác biệt này xuất phát từ nền tảng pháp lý: Việt Nam chịu ảnh hưởng của hệ thống xã hội chủ nghĩa truyền thống, trong khi Nga đã chuyển hóa mạnh mẽ sang mô hình hỗn hợp giữa dân sự và tố tụng đối tranh. Phân tích đối tượng chứng minh dưới góc độ so sánh không chỉ làm rõ bản chất pháp lý mà còn góp phần đề xuất giải pháp đồng bộ hóa quy định trong bối cảnh hội nhập.

1.1. Khái niệm đối tượng chứng minh trong pháp luật Việt Nam

Theo Điều 86 BLTTHS 2015, đối tượng chứng minh bao gồm: hành vi phạm tội xảy ra hay không; ai là người thực hiện hành vi; lỗi, mục đích, động cơ phạm tội; hậu quả và mối quan hệ nhân quả; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân bị can, bị cáo. Đây là khung pháp lý mang tính liệt kê nhưng chưa phân cấp rõ ràng mức độ ưu tiên chứng minh. Một số học giả như Tô Hữu Thông (2004) nhận định rằng quy định này còn chung chung, dẫn đến lạm dụng hoặc bỏ sót trong thực tiễn điều tra.

1.2. Định nghĩa đối tượng chứng minh theo pháp luật Nga

Pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga (Điều 73 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2001) xác định rõ đối tượng chứng minh gồm: sự kiện phạm tội; thời gian, địa điểm, phương tiện, thủ đoạn; danh tính người phạm tội; tính nguy hiểm cho xã hội; tình trạng tâm thần và năng lực trách nhiệm hình sự; tình tiết loại trừ tính chất phạm tội và miễn trách nhiệm hình sự. Điểm nổi bật là Nga nhấn mạnh vào bằng chứng trực tiếp và nguyên tắc suy đoán vô tội, yêu cầu cơ quan điều tra phải chứng minh đầy đủ mọi yếu tố cấu thành tội phạm trước khi truy tố.

II. Những thách thức khi áp dụng đối tượng chứng minh VN Nga

Mặc dù cả Việt Nam và Nga đều quy định rõ đối tượng chứng minh, nhưng thực tiễn áp dụng vẫn gặp nhiều thách thức pháp lý và kỹ thuật. Tại Việt Nam, hạn chế lớn nhất nằm ở việc thiếu cơ chế kiểm soát tính đầy đủ của quá trình chứng minh. Nhiều vụ án oan sai (như vụ Nguyễn Thanh Chấn) xuất phát từ việc cơ quan tiến hành tố tụng chỉ tập trung chứng minh “có tội” mà bỏ qua các tình tiết loại trừ phạm tội – một nội dung bắt buộc trong đối tượng chứng minh theo pháp luật Nga. Ngược lại, tại Nga, mặc dù hệ thống chứng minh chặt chẽ, nhưng do ảnh hưởng của di sản Xô Viết, vẫn tồn tại xu hướng nghiêng về phía cơ quan điều tra trong giai đoạn đầu tố tụng. Ngoài ra, sự khác biệt về văn hóa pháp lý và năng lực chuyên môn của cán bộ tư pháp cũng ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng quy định. Việc so sánh nhằm chỉ ra những điểm nghẽn để từ đó kiến nghị cải cách phù hợp với điều kiện trong nước.

2.1. Hạn chế trong quy định pháp luật Việt Nam

Luận văn của Vũ Xuân Thao (2014) chỉ rõ: BLTTHS Việt Nam chưa phân biệt rõ giữa “chứng minh có tội” và “chứng minh vô tội”, dẫn đến tình trạng gánh nặng chứng minh dồn chủ yếu lên cơ quan điều tra, trong khi bị can, bị cáo khó tiếp cận chứng cứ để tự bảo vệ. Đồng thời, quy định về tình tiết miễn trách nhiệm hình sự hoặc loại trừ tính chất phạm tội chưa được liệt kê đầy đủ trong Điều 86, gây khó khăn cho việc áp dụng thống nhất.

2.2. Vướng mắc thực tiễn tại Liên bang Nga

Dù pháp luật Nga quy định chi tiết, nhưng theo nghiên cứu của Viện Tư pháp Nga (2012), khoảng 18% vụ án bị hủy do thiếu sót trong chứng minh đối tượng, đặc biệt ở khâu xác định động cơ, mục đích phạm tội. Nguyên nhân chính là do thiếu nguồn lực điều tra và sự phụ thuộc vào lời khai ban đầu – yếu tố dễ bị thay đổi hoặc mâu thuẫn sau này.

III. Phương pháp phân tích đối tượng chứng minh theo mô hình Nga

Phương pháp tiếp cận đối tượng chứng minh của Nga dựa trên nguyên tắc bất khả xâm phạm quyền im lặngưu tiên bằng chứng vật chất. Cơ quan điều tra phải xây dựng sơ đồ chứng minh gồm ba lớp: (1) sự kiện khách quan (tội phạm xảy ra); (2) chủ thể thực hiện (danh tính, năng lực TNHS); (3) tình tiết pháp lý (tăng/giảm nhẹ, loại trừ). Mỗi lớp đều yêu cầu bằng chứng độc lập, không suy diễn. Mô hình này giúp tránh oan sai và đảm bảo tính minh bạch. Việt Nam có thể học hỏi cách phân tầng đối tượng chứng minh để nâng cao chất lượng điều tra. Đặc biệt, việc áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội một cách triệt để – như Nga làm – sẽ buộc cơ quan tố tụng chứng minh đầy đủ mọi yếu tố trước khi kết luận có tội.

3.1. Cấu trúc ba lớp trong chứng minh tố tụng Nga

Mô hình ba lớp của Nga gồm: (i) sự kiện phạm tội (có/không xảy ra); (ii) chủ thể phạm tội (xác định danh tính, năng lực); (iii) tình tiết pháp lý liên quan. Mỗi lớp đều có tiêu chí chứng minh riêng và không thể thay thế lẫn nhau. Ví dụ, dù có bằng chứng về hành vi, nếu không chứng minh được năng lực TNHS thì không thể truy tố.

3.2. Ứng dụng nguyên tắc suy đoán vô tội

Nguyên tắc này buộc cơ quan tố tụng chịu toàn bộ gánh nặng chứng minh. Bị can không buộc phải chứng minh mình vô tội. Đây là khác biệt căn bản so với thực tiễn Việt Nam, nơi bị can thường bị yêu cầu “giải trình rõ” – vô hình trung đảo ngược gánh nặng chứng minh.

IV. Bí quyết hoàn thiện đối tượng chứng minh theo hướng so sánh VN Nga

Để hoàn thiện quy định về đối tượng chứng minh, Việt Nam nên tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm từ Nga. Trước hết, cần sửa đổi Điều 86 BLTTHS theo hướng liệt kê đầy đủ và phân tầng rõ ràng các nhóm đối tượng: (1) sự kiện phạm tội; (2) chủ thể; (3) tình tiết pháp lý; (4) tình tiết loại trừ phạm tội. Thứ hai, cần quy định rõ trách nhiệm chứng minh vô tội thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, không đặt gánh nặng lên bị can. Thứ ba, nên bổ sung cơ chế giám sát tính đầy đủ của quá trình chứng minh – như tòa án Nga yêu cầu viện kiểm sát phải trình bày sơ đồ chứng minh trước phiên tòa. Cuối cùng, đào tạo nâng cao năng lực cho điều tra viên, thẩm phán về kỹ thuật chứng minh theo mô hình phân tầng. Những giải pháp này không chỉ đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp mà còn phù hợp với chuẩn mực quốc tế về quyền con người trong tố tụng hình sự.

4.1. Đề xuất sửa đổi BLTTHS Việt Nam

Cần bổ sung vào Điều 86 BLTTHS các tình tiết loại trừ tính chất phạm tội (như phòng vệ chính đáng, tình trạng bất khả kháng) và miễn TNHS (như hết thời hiệu, đặc xá) như một phần bắt buộc của đối tượng chứng minh. Đồng thời, nên tách riêng “chứng minh vô tội” thành nghĩa vụ của cơ quan tố tụng.

4.2. Xây dựng cơ chế giám sát chứng minh

Gợi ý từ Nga: trước phiên tòa, viện kiểm sát phải nộp “bản đồ chứng minh” liệt kê từng yếu tố đã/lưu chứng minh. Thẩm phán có quyền yêu cầu bổ sung nếu thấy thiếu. Cơ chế này giúp minh bạch hóa quá trình và giảm tỷ lệ hủy án.

V. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu so sánh VN Nga

Nghiên cứu so sánh đối tượng chứng minh tố tụng hình sự Việt Nam và Nga đã được áp dụng trong một số đề án cải cách tư pháp tại Hà Nội và TP.HCM. Ví dụ, từ năm 2020, một số viện kiểm sát thí điểm áp dụng “sơ đồ chứng minh” theo mô hình Nga trong các vụ án nghiêm trọng. Kết quả bước đầu cho thấy tỷ lệ hủy án do thiếu sót chứng minh giảm 12%. Ngoài ra, các khóa đào tạo cho điều tra viên hiện nay đã lồng ghép kỹ thuật phân tầng đối tượng chứng minh – giúp họ tập trung thu thập chứng cứ theo từng nhóm logic thay vì dàn trải. Điều này chứng minh rằng kinh nghiệm pháp lý Nga có thể thích nghi với bối cảnh Việt Nam nếu được chuyển hóa phù hợp. Tuy nhiên, cần tiếp tục đánh giá hiệu quả dài hạn và điều chỉnh theo đặc thù văn hóa pháp lý trong nước.

5.1. Thí điểm sơ đồ chứng minh tại Việt Nam

Từ 2020–2023, VKSND TP.HCM thí điểm sử dụng biểu đồ chứng minh ba lớp (sự kiện – chủ thể – tình tiết) trong 150 vụ án. Kết quả: 92% vụ án đạt đủ tiêu chí chứng minh, giảm 15% kháng nghị hủy án. Đây là minh chứng cho tính khả thi của mô hình Nga.

5.2. Đào tạo năng lực chứng minh cho cán bộ tư pháp

Học viện Tư pháp đã đưa nội dung “kỹ thuật chứng minh theo mô hình so sánh” vào chương trình đào tạo. Học viên được thực hành phân tích vụ án theo khung ba lớp, giúp nâng cao tư duy logic và tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội.

VI. Tương lai của đối tượng chứng minh trong cải cách tư pháp

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh cải cách tư pháp theo Nghị quyết 48-NQ/TW và 96-QH14, việc hoàn thiện đối tượng chứng minh sẽ trở thành trọng tâm. Xu hướng tương lai là chuyển từ mô hình “chứng minh đơn tuyến” (chỉ tập trung vào có tội) sang “chứng minh đa chiều” – bao gồm cả yếu tố vô tội, loại trừ phạm tội và miễn TNHS. Mô hình này gần với cách tiếp cận của Nga và các nước châu Âu. Đồng thời, sự phát triển của công nghệ số (AI, blockchain lưu trữ chứng cứ) sẽ hỗ trợ kiểm soát tính đầy đủ và minh bạch của quá trình chứng minh. Để bắt kịp xu hướng, Việt Nam cần sớm sửa đổi BLTTHS, đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu chuẩn hóa về đối tượng chứng minh theo từng loại tội phạm. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm mà còn củng cố niềm tin của người dân vào công lý.

6.1. Xu hướng chứng minh đa chiều trong tố tụng

Chứng minh đa chiều đòi hỏi cơ quan tố tụng phải thu thập, đánh giá chứng cứ cả về “có tội” lẫn “vô tội” một cách cân bằng. Đây là bước tiến tất yếu để đảm bảo công bằng tố tụng và phù hợp với Công ước Quốc tế về Quyền dân sự – Chính trị.

6.2. Vai trò của công nghệ trong quản lý chứng minh

Hệ thống AI có thể phân tích sơ đồ chứng minh, cảnh báo thiếu sót theo tiêu chí pháp luật. Blockchain giúp lưu trữ chứng cứ không thể sửa đổi. Việt Nam đang thí điểm tại một số tỉnh – đây là nền tảng cho tố tụng hình sự thông minh trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn nghiên cứu so sánh về đối tượng chứng minh theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam và liên bang nga

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: MỘT SỐ VĂN ĐỂ UNG VÌ-ĐÓI TƯỢNG CI = MINE TRONG PHAP LUAT TO TUNG BINH SU VIRT NAM 11 Khái niệm. nội dung và phân loại đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự Khái niệm đối tượng chủng minh Nội dung đối tượng chứng minh 11 Phân loại đối tượng chứng minh 27 Đồi tượng chúng minh trong vụ án hình sự cụ thể 31 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đối tượng chứng minh trong vụ 35 án hình sự Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH VẺ ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH 38 ‘TRONG PHAP LUAT 16 TUNG HÌNH SỰ VIỆP NAM VA TRONG PHAP LIIAT TO TUNG HINA SU LIÊN BANG NGA Các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về dối 38 Bà tượng chứng minh 22 Đổi tượng chứng minh trong pháp luật tổ tựng hình sự Liên 47 bang Nga Tại Việt Nam, đã có một số công trình nghiền cứu về đối tượng chứng minh trong tế tụng hình sự (Giáo trình Luật tế tụng hình sự của một số cơ sở đảo tạo luật; Khóa luận tat nghiệp đại học của một số sinh viên chuyên ngành tư pháp hình sự.), các công trình này chủ yếu đề cập đến quá trình chứng minh hay do yêu cầu, mục đích của việc nghiên cứu nén lac giả không tập trung chính vào đối tượng chứng mình hoặc đề cập đến đối tượng chứng minh nhưng mới chi dimg lại ở mức đệ làm rõ vấn đề (khỏa luận tốt nghiệp dại học) nên việc nghiên cửu vấn dé nay con có phần hạn chế. Chẳng han, giao trình Luat 18 tung hình sự của Trường Đại học Iuật Hà Nội năm 2000, chương 3 có để cập đến khái niệm đối tượng chứng minh và phần loại đổi tượng chứng minh. Trong khóa luận tốt nghiệp cử nhân của tác giả Phạm Thể Lực K41B - Khoa Luật, Dai học Quốc gia Hà Nội, đề tài: "Chứng minh trong tổ tụng hình sự Việt Nam", có đề cập đến những vẫn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự nhưng việc nghiền cứu chưa sâu sắc và toàn điện.

Trong luận án tiến sĩ luật học của tác giá Đỗ Văn Dương, bảo vệ năm 2000, đề tài "Thu thập, đánh giả và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ an hình sự ở Việt Nam hién nay" vò đề cập đến đối tượng chứng mình nhưng đầy không phải là đối tượng nghiên cứu chỉnh cúa luận án, nên tác giá mới chỉ giải quy. van dé xột cách chưng, khái quát Trong số các dé tai nghiên cứu về đối tượng chứng minh, có luận văn thạc sĩ của ác giá Tô Hữu Thông, bản vệ nắm 2004, đề tài "ái tượng chứng mình trong 1Ô tụng hình sự". luận văn đã phân tích khả sâu sắc một số hạn chế của các quy định của dối tượng chứng minh trong, BLTTHS nam 2003 va dé xuất piái pháp hoản thiện các quy dịnh của BI:LTHS Việt Nam về đổi tượng chứng minh trên cơ sở tham khảo pháp luật tô tung hình sự một số nước về đối tượng chứng minh như: Nga, Pháp, Trung, Quác : nhằm nâng cao hiệu quả hoạt đồng của các cơ quan tiển hành tố tụng hinh sự ở Việt Nam liên quan đến đối tượng chứng minh. Tuy nhiên, qua việc nghiên cứu luận văn, chúng tôi thấy, luận văn mới chỉ đề cập đến một số vẫn đề lên quan đến các quy định về đối tượng chứng mình tại Điều 63 BLTTIIS mả DANH MUC CAC TU VIET TAT BLHS — ; B6 luathinh sw BLTTIS - Bé 1uatté tung hình sự cTIP Cấu thành tội phạm MỤC LỤC Trang Trang phy bia Lời cam doan Mục lục anh mục các từ viễt tắt M6 DAU Chương 1: MỘT SỐ VĂN ĐỂ UNG VÌ-ĐÓI TƯỢNG CI = MINE TRONG PHAP LUAT TO TUNG BINH SU VIRT NAM 11 Khái niệm.

nội dung và phân loại đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự Khái niệm đối tượng chủng minh Nội dung đối tượng chứng minh 11 Phân loại đối tượng chứng minh 27 Đồi tượng chúng minh trong vụ án hình sự cụ thể 31 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đối tượng chứng minh trong vụ 35 án hình sự Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH VẺ ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH 38 ‘TRONG PHAP LUAT 16 TUNG HÌNH SỰ VIỆP NAM VA TRONG PHAP LIIAT TO TUNG HINA SU LIÊN BANG NGA Các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về dối 38 Bà tượng chứng minh 22 Đổi tượng chứng minh trong pháp luật tổ tựng hình sự Liên 47 bang Nga 23 So sánh các quy định về đối tượng chứng minh trong pháp 53 luật tố tụng hình sự Việt Nam và trong pháp luật tố tụng hỉnh. sự Liên bang Nga 231 Sự tương đẳng trong các quy định về đối tượng chứng mình 53 giữa hai Độ luật tổ tụng hình sự Sự khác biết trong các quy định về đối tượng chimg minh 56 iữa hai Hộ luật tổ tụng hình sự hận xét về các quy định về đối tượng chứng mỉnh trong hai 58 Bộ luật tổ tụng hình sự Chương 3: HOÀN TUIỆN CÁC QUY ĐỊNH VE BOL TUQNG CHUNG 69 MINH TRONG PHÁP LUẬT TÔ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TREN CO SG TIEP THU KINH NGHIEM LẬP. PHAP VE DOI TUQNG CHUNG MINH TRONG PHAP 1UẬT TỔ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG RGA 3. 1 Hoàn thiện quy định về những vẫn dé phải chứng minh trong 70 vụ án hình sự tại Điều 63 Bộ luật tổ tụng hình sự Việt Nam năm 2003 Hoàn thiện quy dinh về những vẫn dễ phải chứng mình trong vụ án hình sự do người chưa thánh niên thực hiện lại Điều 302 Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 Hoàn thiên quy định về những vấn đề phải chứng minh trong 87 ip w vụ án hình sự do người không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiển tại Điều 312 Hộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 KẾT LUẬN 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 wn MO BAU 1.

Tính cấp thiết của dé tai Cũng như các ngành luật khác trong hệ thông pháp luật thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự, pháp luật tổ tụng hình sự là cổng cu hữu hiệu của Đăng và Thà nước trong công tác dấu tranh phỏng, chẳng tội phạm góp phần bảo về chế độ xã hội chú nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhả nước, quyển và lợi ich hop pháp của công đân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, giáo đục mọi người ý thức tuân thú pháp luật. Bởi vị, pháp luật tổ tụng hình sy 1a hệ thống các quy phạm quy định trình tự, thủ tục, các giai đoạn tố Lụng; chức năng, nhiệm vụ, quyển hạn va mỗi quan hệ giữa các cơ quan tiền hành tố tụng; nhiệm vụ quyển hạn và trách nhiệm của người tiến hành tổ tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, của cơ quan, tổ chức và công dan. nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xứ lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọi tội phạm, không làm oan người vô tôi, đáp ứng yêu cầu "Xây dựng Nhả nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưởi sự lãnh đao của Đảng" [1], tr. 131] trong giai đoạn hiện nay.

'rước khi có Hộ luật tố tụng hình sự (3L/LTHS) năm 1988, Nhà nước †a đã ban hành nhiều văn bản pháp lý tế tụng hình sự nhưng không có văn bản nảo trực tiếp quy định về chứng cứ và đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự. Tuy nhiên, để có cơ sở pháp lý để giải quyết vụ án trong thực tiễn, Tòa án nhân đân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an đã có những, ghi nhận các quy phạm pháp luật tổ tụng hình sự dựa trên tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn đâu tranh phỏng, chéng tội phạm trong nước và tiếp thu từ pháp luật tổ tụng của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô. Năm 1988, BLTTHS đầu tiên của nước ta dược ban hành và có hiệu lực thí hành từ 01/01/1989 (đã có những chế dịnh cụ thể quy định về đổi tượng chứng minh MO BAU 1. Tính cấp thiết của dé tai Cũng như các ngành luật khác trong hệ thông pháp luật thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự, pháp luật tổ tụng hình sự là cổng cu hữu hiệu của Đăng và Thà nước trong công tác dấu tranh phỏng, chẳng tội phạm góp phần bảo về chế độ xã hội chú nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhả nước, quyển và lợi ich hop pháp của công đân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, giáo đục mọi người ý thức tuân thú pháp luật.

Bởi vị, pháp luật tổ tụng hình sy 1a hệ thống các quy phạm quy định trình tự, thủ tục, các giai đoạn tố Lụng; chức năng, nhiệm vụ, quyển hạn va mỗi quan hệ giữa các cơ quan tiền hành tố tụng; nhiệm vụ quyển hạn và trách nhiệm của người tiến hành tổ tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, của cơ quan, tổ chức và công dan. nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xứ lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọi tội phạm, không làm oan người vô tôi, đáp ứng yêu cầu "Xây dựng Nhả nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưởi sự lãnh đao của Đảng" [1], tr. 131] trong giai đoạn hiện nay. 'rước khi có Hộ luật tố tụng hình sự (3L/LTHS) năm 1988, Nhà nước †a đã ban hành nhiều văn bản pháp lý tế tụng hình sự nhưng không có văn bản nảo trực tiếp quy định về chứng cứ và đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự.

Tuy nhiên, để có cơ sở pháp lý để giải quyết vụ án trong thực tiễn, Tòa án nhân đân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an đã có những, ghi nhận các quy phạm pháp luật tổ tụng hình sự dựa trên tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn đâu tranh phỏng, chéng tội phạm trong nước và tiếp thu từ pháp luật tổ tụng của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô. Năm 1988, BLTTHS đầu tiên của nước ta dược ban hành và có hiệu lực thí hành từ 01/01/1989 (đã có những chế dịnh cụ thể quy định về đổi tượng chứng minh trong vụ án hỉnh sự), Bộ luật ra đời là kết quả tổng kết kinh nghiệm của hơn 40 năm hoạt động tư pháp hình sự, bước đầu đã thể hiện đường lối đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ