So Sánh và Ẩn Dụ Trong Ca Dao Đồng Bằng Sông Cửu Long

Tài liệu nghiên cứu So sánh ẩn dụ trong ca dao đồng bằng sông cửu long khảo sát qua nhóm hình ảnh động vật và thực vật, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại Học Đồng Tháp

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

205
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về So Sánh và Ẩn Dụ Trong Ca Dao ĐBSCL

Ca dao Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là kho tàng văn hóa vô giá, phản ánh đời sống, tâm tư, tình cảm của người dân nơi đây. Các biện pháp tu từ như so sánhẩn dụ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên tính biểu cảm, hình tượng của ca dao. So sánh giúp người đọc hình dung rõ nét sự vật, hiện tượng thông qua việc đối chiếu với những điều quen thuộc. Ẩn dụ lại mang đến những tầng nghĩa sâu sắc, gợi mở, đòi hỏi người đọc phải suy ngẫm, khám phá. Việc sử dụng hình ảnh động vậtthực vật trong so sánhẩn dụ càng làm tăng thêm tính sinh động, gần gũi của ca dao ĐBSCL. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích cách sử dụng và ý nghĩa của các hình ảnh này trong ca dao.

1.1. Khái Niệm và Vai Trò Của So Sánh Trong Ca Dao

So sánh là biện pháp tu từ đối chiếu hai sự vật, hiện tượng có nét tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm của đối tượng được miêu tả. Trong ca dao, so sánh thường sử dụng các từ ngữ như "như", "tựa", "bằng",... để liên kết hai đối tượng. Ví dụ, "Thân em như tấm lụa đào, phất phơ giữa chợ biết vào tay ai". Câu ca dao này sử dụng so sánh để diễn tả thân phận bấp bênh của người phụ nữ trong xã hội xưa. So sánh không chỉ giúp người đọc hình dung rõ hơn về đối tượng mà còn thể hiện cảm xúc, thái độ của người viết.

1.2. Khái Niệm và Vai Trò Của Ẩn Dụ Trong Ca Dao

Ẩn dụ là biện pháp tu từ dùng một sự vật, hiện tượng để chỉ một sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng về ý nghĩa. Khác với so sánh, ẩn dụ không sử dụng các từ ngữ liên kết trực tiếp mà ngầm ám chỉ đối tượng thông qua các đặc điểm, tính chất. Ví dụ, "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng". Câu ca dao này sử dụng ẩn dụ để nói về tầm quan trọng của môi trường sống đối với sự hình thành nhân cách con người. Ẩn dụ giúp ca dao trở nên sâu sắc, hàm súc và giàu tính biểu tượng.

II. So Sánh Động Vật Trong Ca Dao ĐBSCL Phân Tích Chi Tiết

Hình ảnh động vật được sử dụng rộng rãi trong so sánh ở ca dao Đồng bằng sông Cửu Long. Các loài động vật quen thuộc như trâu, bò, cá, chim,... trở thành những biểu tượng quen thuộc, gần gũi với đời sống của người dân. Việc sử dụng hình ảnh động vật không chỉ giúp ca dao trở nên sinh động, hấp dẫn mà còn thể hiện những quan niệm, giá trị văn hóa của cộng đồng. Ví dụ, hình ảnh con trâu gắn liền với sự cần cù, chịu khó của người nông dân; hình ảnh con cò tượng trưng cho sự vất vả, lam lũ của người phụ nữ.

2.1. Đặc Điểm và Ý Nghĩa Của So Sánh Sử Dụng Hình Ảnh Động Vật

Các so sánh sử dụng hình ảnh động vật trong ca dao ĐBSCL thường tập trung vào việc miêu tả ngoại hình, tính cách, hoặc hoàn cảnh sống của con người. Ví dụ, "Khỏe như trâu", "Nhanh như cắt", "Cô đơn như con chim lạc đàn". Những so sánh này giúp người đọc dễ dàng hình dung và cảm nhận được những đặc điểm của đối tượng được miêu tả. Ngoài ra, việc sử dụng hình ảnh động vật còn thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa con người và thiên nhiên trong văn hóa ĐBSCL.

2.2. Ví Dụ Cụ Thể Về So Sánh Động Vật Trong Ca Dao Nam Bộ

Một số ví dụ điển hình về so sánh động vật trong ca dao ĐBSCL bao gồm: "Thương nhau như cá về nguồn", "Chậm như rùa", "Ăn như mèo". Mỗi so sánh mang một ý nghĩa riêng, phản ánh những khía cạnh khác nhau của cuộc sống. "Thương nhau như cá về nguồn" thể hiện tình cảm gắn bó, thủy chung giữa con người với nhau. "Chậm như rùa" miêu tả sự chậm chạp, lề mề. "Ăn như mèo" ám chỉ những người ăn ít, nhỏ nhẹ.

III. Ẩn Dụ Động Vật Trong Ca Dao ĐBSCL Giải Mã Tầng Nghĩa Sâu Sắc

Bên cạnh so sánh, ẩn dụ cũng là một biện pháp tu từ quan trọng trong việc sử dụng hình ảnh động vật trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long. Các loài động vật không chỉ được dùng để miêu tả trực tiếp mà còn mang những ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, thể hiện những quan niệm, giá trị văn hóa của cộng đồng. Ví dụ, hình ảnh con rồng tượng trưng cho quyền lực, sức mạnh; hình ảnh con phượng tượng trưng cho sự cao quý, thanh tao.

3.1. Phân Tích Ý Nghĩa Biểu Tượng Của Ẩn Dụ Động Vật

Ẩn dụ động vật trong ca dao ĐBSCL thường mang những ý nghĩa biểu tượng liên quan đến các khía cạnh của cuộc sống như tình yêu, hôn nhân, gia đình, xã hội. Ví dụ, "Con ong hút mật" có thể ẩn dụ cho những người lợi dụng người khác để đạt được mục đích cá nhân. "Con tằm nhả tơ" có thể ẩn dụ cho sự hy sinh, cống hiến của người mẹ dành cho con cái. Việc giải mã những ý nghĩa biểu tượng này giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về văn hóa và con người ĐBSCL.

3.2. Ứng Dụng Của Ẩn Dụ Động Vật Trong Diễn Đạt Tình Cảm

Ẩn dụ động vật được sử dụng hiệu quả trong việc diễn đạt những tình cảm, cảm xúc phức tạp của con người. Ví dụ, "Thân em như con cá rô, nằm trong đáy lọ biết ngày mô ra" ẩn dụ cho sự tù túng, bế tắc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. "Lòng em như biển rộng sông dài, thương anh biết ngỏ cùng ai cho vừa" ẩn dụ cho tình yêu bao la, sâu sắc của người con gái.

IV. So Sánh Thực Vật Trong Ca Dao ĐBSCL Vẻ Đẹp Từ Thiên Nhiên

Tương tự như động vật, hình ảnh thực vật cũng được sử dụng phổ biến trong so sánh ở ca dao Đồng bằng sông Cửu Long. Các loài cây, hoa, quả quen thuộc như lúa, sen, dừa, chanh,... trở thành những biểu tượng gần gũi, gắn liền với đời sống của người dân. Việc sử dụng hình ảnh thực vật không chỉ làm tăng thêm tính thẩm mỹ cho ca dao mà còn thể hiện sự trân trọng, yêu mến thiên nhiên của người dân ĐBSCL.

4.1. Đặc Điểm Của So Sánh Sử Dụng Hình Ảnh Thực Vật

Các so sánh sử dụng hình ảnh thực vật trong ca dao ĐBSCL thường tập trung vào việc miêu tả vẻ đẹp, phẩm chất, hoặc giá trị sử dụng của đối tượng được miêu tả. Ví dụ, "Trắng như bông bưởi", "Thơm như lúa mới", "Xanh như lá mạ". Những so sánh này giúp người đọc dễ dàng hình dung và cảm nhận được những đặc điểm của đối tượng được miêu tả. Ngoài ra, việc sử dụng hình ảnh thực vật còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về thiên nhiên của người dân ĐBSCL.

4.2. Ví Dụ Về So Sánh Thực Vật Trong Ca Dao Về Tình Yêu

Trong ca dao về tình yêu, so sánh thực vật thường được sử dụng để miêu tả vẻ đẹp, phẩm chất của người yêu. Ví dụ, "Em đẹp như hoa sen", "Anh thương em như cây dừa thương bến". "Em đẹp như hoa sen" thể hiện sự thanh khiết, cao quý của người con gái. "Anh thương em như cây dừa thương bến" thể hiện tình yêu bền chặt, thủy chung.

V. Ẩn Dụ Thực Vật Trong Ca Dao ĐBSCL Khám Phá Ý Nghĩa Ẩn Sâu

Hình ảnh thực vật không chỉ được sử dụng trong so sánh mà còn được dùng để ẩn dụ trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long. Các loài cây, hoa, quả mang những ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, thể hiện những quan niệm, giá trị văn hóa của cộng đồng. Ví dụ, hình ảnh cây tre tượng trưng cho sự kiên cường, bất khuất; hình ảnh hoa sen tượng trưng cho sự thanh cao, thoát tục.

5.1. Ý Nghĩa Biểu Tượng Của Ẩn Dụ Thực Vật Trong Ca Dao Về Cuộc Sống

Ẩn dụ thực vật trong ca dao ĐBSCL thường mang những ý nghĩa biểu tượng liên quan đến các khía cạnh của cuộc sống như lao động, sản xuất, gia đình, xã hội. Ví dụ, "Cây lúa là vàng" ẩn dụ cho giá trị của lao động nông nghiệp. "Cây đa, bến nước, sân đình" ẩn dụ cho những hình ảnh quen thuộc, gắn bó với làng quê Việt Nam.

5.2. Cách Ẩn Dụ Thực Vật Thể Hiện Ước Mơ Khát Vọng

Ẩn dụ thực vật được sử dụng để thể hiện những ước mơ, khát vọng của con người. Ví dụ, "Ước gì em hóa thành cây, để anh làm bóng mát ngày hè" thể hiện ước mơ được che chở, bảo vệ người mình yêu. "Ước gì em hóa thành hoa, để anh làm bướm lượn la bên mình" thể hiện khát vọng được gần gũi, yêu thương người mình yêu.

VI. Giá Trị Văn Hóa và Nghệ Thuật Của So Sánh và Ẩn Dụ Trong Ca Dao

So sánhẩn dụ sử dụng hình ảnh động vậtthực vật là những yếu tố quan trọng tạo nên giá trị văn hóa và nghệ thuật của ca dao Đồng bằng sông Cửu Long. Chúng không chỉ giúp ca dao trở nên sinh động, hấp dẫn mà còn thể hiện những quan niệm, giá trị văn hóa, tình cảm, cảm xúc của người dân nơi đây. Việc nghiên cứu và bảo tồn ca dao ĐBSCL là góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

6.1. Bảo Tồn và Phát Huy Giá Trị Ca Dao Nam Bộ

Việc bảo tồn và phát huy giá trị ca dao ĐBSCL cần được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau như sưu tầm, nghiên cứu, giảng dạy, biểu diễn,... Cần khuyến khích các hoạt động sáng tác ca dao mới, phù hợp với cuộc sống hiện đại, đồng thời vẫn giữ được những giá trị truyền thống.

6.2. Ứng Dụng Ca Dao Trong Giáo Dục và Đời Sống

Ca dao ĐBSCL có thể được ứng dụng trong giáo dục để giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn hóa, lịch sử, con người của vùng đất này. Ngoài ra, ca dao còn có thể được sử dụng trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, giải trí, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của cộng đồng.

06/06/2025
So sánh ẩn dụ trong ca dao đồng bằng sông cửu long khảo sát qua nhóm hình ảnh động vật và thực vật

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHAI QUAT VE SO SANH. AN DU VÀ CA DAO ĐÔNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1. Vài nết vỀ so sánh tu tir 1. Về khải niệm Biện pháp tu từ được xem là phương tiêu biểu hiện chung của mọi phong cách.

Chúng được hình thành đựa trên quan hệ liên tướng hay quan hệ tổ hợp. Từ ‘hai quan hé này, ta có nhiễu biên pháp tử như: so sánh, ẫn dụ, hoán dụ, nhân hóa, lặp, liệt kê. Trong đó, so sánh là biện pháp tu tử được thực hiện dựa tên mỗi quan hệ liên tưởng tương đồng giữa các đối tương. Clin phân biệt xo sánh tu từ với xo sánh luận lí: So sánh luận (là sự đối chiếu giữa các đối tượng cùng loại và chi cho ta thấy sự ngung bằng hay hơn kém giữa các đối tượng.

“Thí dụ: “Hòa đã cao hơn me”. So sánh tụ từ là sư đối chiếu giữa các đổi tượng khác loại và nhằm mục đích ơi lên mốt cách hình ảnh đặc điểm giữa các đổi tương từ đó tạo nên xúc cảm thẩm mỹ trong nhân thức của người tiếp nhận. Thí dụ: “Đi ta như lửa mới nhe “Như trăng mới mọc nluz đền mới khêu * (Ca đạo) 'Có nhiều khải niệm về phép so sánh: “Theo tác giá Đình Trơng Lạc trong “99 plương rỉ ũ biển pháp tu tie tiéng Viet”, Nxb Giáo dục, 1994, "So sánh là một biến pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đổi chiều bai đối tượng khác loại của thực tẻ khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có môt nét giổng nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình cảnh một lỗi tì giác mới mè về đối tượng” [1T, t.154]- 10 “Thí dụ: “Mật tươi như hoa”. Nguyễn Văn Nở trong °Phong cách hoe tiéng Vigt”, Nxb Bai học Cần Thơ, 2012, dua ra khái niệm “So sánh là biện pháp tu tử dùng sự đổi chiếu hai hay nhiễu đối tượng (hoặc sự vật) có một nét tương đồng nào đó về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trung để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thắm mỹ trong nhãn thức của người đọc, người nghe [34, t.

“Thí du: “Công cha như nũi Thái Sơn “Nga mẹ như nước tong nguồn chảy ra" (Ca dao) Cu Dinh Tu trong “Phong edch hoe và độc điểm tư từ tiếng Việt”, Nxh Đại ọc và Trung học chuyên nghiệp. 1983, định nghĩa “So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tương cùng có một dẫu hiệu chung nào đấy (nét giống, nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng.175] "Thí dụ: "Mai eo khuôn mặt nÏủz mẹ”. Định Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa trong ^Phong cách học riểng Việt", Nxb, Giáo dục, 2006, lại cho rằng “So sánh là phương thức diễn đạt tu tử khi đem sự vật này đối chiểu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ánh cụ thể, những cám xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe [18, 1.189], Thi dy: “Tinh anh như nước dâng cao: Tình em như đái lua đào tắm hương” (Ca đao) Như vậy. so sánh tu từ là một biện pháp tu tử dùng sự đổi chiếu hai hay nhiều Si tượng có một nét tương đồng nào đố vẻ hình thức bên ngoài hay tính chất " bên trong để gợi ra hinh ảnh cụ thể.

những cảm xúc thẩm mỹ trang nhẫn thức của người đọc, người nghe. “Thí dụ: “Thân em như thẻ trái chanh LẮc lửo trên cành nhiễu ké wie mo” (Ca dao) 1.3, CẤU tạo của xo sánh từ tir 1. Về mật hình thức “Trong so sánh tu từ thì về sơ sánh và về được so xánh bao giờ cũng xuất hiện trên văn cảnh. Hai về này gắn kết với nhau để tạo nên môi cẫu trúc so sánh.

Ở dạng thức đây đủ nhất, so sánh gỗm có bến thành tổ: về so sánh, cơ sở sơ sánh, từ sơ sánh và về được so sánh. “Thí dụ: VỀ sơ sánh. Cơ sở sọ sánh. 'VỀ được so sánh.

a 2 đá Tiếng suối trang như tiếng hất xa 'Có nhiều cách phân loại hình thức so sánh. © Can cử vào sự xuất hiệu hay vắng mật của thành tổ thứ hai hoặc thứ ba và trật tự của các thànhtổ mà ta có các kiểu so sánh như sau: ~ Kiểu 1: có đầy đủ bắn thành tố và không đảo trật tư. "Thí dụ: “Tiény sudi trong như suỗi Ngọc Tuyển Ân nhữ hỡi gió thoêng cùng tên" (Thể Lữ) ~ Kiểu 2: lược thành tổ thứ (2) — cơ sở so sánh. “Thí dụ: ‘Anh gdp em như cú gặp mỗi "Đăng không cũng giền một hỗi với ø (Ca dao) - Kiểu 8: lược thành tổ (2) và (3) ~ cơ sở sơ sánh và từ so sánh.

“Thí dụ: “Chim quyên ăn trãi nhân lẳng 'Cá thía quên châu. vợ chồng quen hơi” (Ca dao) ~ Kiểu 4: đảo trật tư các thành tổ. Kiểu này có các dạng như sau: + Về được so sánh đưa lên đầu câu. “Thí du: “Như mặt trời mọc lúc rong đông, Cách mạng tháng Mười đã xua tan bóng dâm dày đặc cúa chủ nghĩa tự bản” (Lê Duẫn) + Thành tế (2) đặt ở đầu cầu, "Thí dụ: *Lẽnh đênh một chiếc thuyễn tình Bén tinh bén nghia, bên nào cũng đẳng căn " (Ca dao) * Căn cử vào từ chỉ quan hệ so sánh có các kiểu như: ~ Kiểu 1: A như (tựa như, đường như.

“Thí dụ: “Thân cm như cá lia tha Ra xông mắc lưới vào địa mắc câu” (Ca đạo) ~ Kiểu 2; A báo nhiều B bẩy nhiêu. “Thí dụ: “Qua cẩu ngô nón trông cẩu: Cầu bao nhiều nhịp dạ xẩu bảy nhiều " (Ca dao) - Kiểu 3: A là B, “Thí dụ: + “Trằu ăn là nghĩa Thuốc xia la tinh D6i om phụ mẫu sanh mình dé thieomg” (Ca dao) = Kigu 4: A (Ấn từ so sinh) B. “Thí du: “Tắc đất. Về mặt nội dung Các đối tượng nằm trong hai về là khác loại nhưng lại có nét tương đồng nào.

đó, tạo thành cơ sở cho so sánh. Nếu nét giếng nhau này thể hiện ra cụ thể bằng từ. ngữ (cơ sử giống nhau) thi ta có so sánh nỗi: nếu nét giếng nhan này khẳng thể hiện ra cụ thể bằng từ ngữ th ta có so sánh chim. So sánh ni: *Từ xã nhìn lại, cây gạo sửng xững nhưc một thấp đèn khổng lỗ” (va Ta Nam) Nét tung dong giita “céy gao" (thuc vat) vei “rip dén khéng 16” (vit thé nhân tạo) được thể hiện cụ thể qua từ “dừng vững”: So sánh chìm: *Thương ai ri lại nhớ di, Mat em nhự thẻ nượng khoai mới trắn) (Ca dao) Vẻ mặt lí thuyết, so sánh nỗi ít gợi lên sự liên tưởng so với so sánh chìm vì nết giống nhau (cơ sở so sánh) đã được thể hiện cụ thể.

Ví dụ, sự giống nhau giữa “cấy gạo” và "tháp đền " chính là sự to lớn, vững chăt và đã được miều tả qua từ “vừng xững”, "khống lẢ*", Nhưng nét giống nhau giữa gương mặt buỗn hã của người con gái khi thương nhớ người yêu được so sãnh với “nương Áhaai mới 4 tréng” da khing duge tic giả nói ra. Và chính điều này tạo ra nhiễu sức gợi. Sự liên tưởng về nết giống nhau này sẽ mở rộng tùy theo nắng lực ngôn ngữ và sự nghiệm cuốc sống của người tiếp nhận, Có thể những nết giống nhau sau đãy sẽ được nghĩ đến: "héa da”, "vàng vọt”, "ú đột”, "tần tạ”, “xơ xác”. Để so sánh đạt hiệu quả cao, đồi hỏi phải đạt những yêu cầu san: ~ Hình ảnh so sánh nên cụ thế: vì so sảnh chủ yếu là để cụ thể hóa đổi tượng.

Chính vì thể chiều so sánh tu từ trừu tượng đến cụ thể phổ biến hơn chỉ ngược lại. "Thí dụ: “Rằng + Qua gid lim mura to Lòng dân như nước Pa Có càng đây (Tế Hữu) Tắm lòng của người đân Tây Nguyên đối với cách mang được hình dung thật eu thé như cân dong đo đếm được qua sự so sánh với nước sông Pa Cô. ~ Hình ảnh so sánh nên quen thuộc, gần gũi: đó là những hình ảnh sự vất, hiện tương mà người ta biết rũ những đặc trưng, thuộc tính cơ bản của chúng và mỗi khi được nhắc đến nó tát hiện ngay trong đầu. Những hình ánh so sánh trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao.

cho ta thấy rõ điều đó, Ví dụ: “Thân em nhựư thể họa lài “Thân em nhự giểng giữa đàng “ “Thân em nhự thể. n tài, *Thân em nHư tắm lụa đào." ~ Hình ảnh xo sánh nên hop If sự liên tưởng phát hiện ra nết giẳng nhau giữa các đối tượng khác loại mang tính chủ quan của người dùng, nhưng nét giống nhau đó phải hợp lí thì người ta mới chấp nhận và tấn thưởng. - Hình ảnh so sánh nên tiêu biểu: hình ảnh sơ sánh nếu như có các dẫu hiệu đặc trưng, tiêu biểu thì để nhận biết được. - Hình ảnh so sánh nên biểu cảm: mọi so sánh tu tữ đều thể hiện ít nhiều thái độ, tình cảm, cách đánh giá của người dùng.

t5 - Hình ảnh sa sánh nền có tính thẩm mĩ: so sánh không chỉ đúng mà còn cin phải thóa mãn nhu cấu thắm mĩ, gợi lên những xúc cảm nghệ thuật. Chức năng và phạm vì sử dụng của sơ sánh tự từ 1. Chức nẵng của sở sảnh tụ từ “So xánh có bai chức năng là nhận thức và biểu cám. Tuy nhiên, có thể nói, thể manh của so sánh là chức năng nhận thức.

Biện pháp này giúp cho ngưởi nói. viết diễn đạt được một cách xinh động. cụ thể, hình ảnh: thể hiện sự nhận thức về đối tượng được nói đến cũng như thái độ. tình cảm đối với đổi tượng đó.

“Thí dụ: “Dai ta nue thé con ong ‘Con qudn con quyt con trong con ngoài” (Ca dao). “Tác giá không chí đơn thuẫn miêu tả đặc điểm của con ong mà muốn nhắn mạnh khía cạnh quần quýt, gẳn gũi của con ong “con quấn con quýt con trong con ngoài” để diễn tá một cách đặc sắc, phù hợp với việc bộc lô tình cảm của đôi lứa. Phạm ví sử dụng của so sảnh tủ từ Do sở sánh tu tử mang chức năng nhận thức, chức năng biểu cảm - cảm xúc và ddo cấu tạo đơn giên Chó rên so tính tì từ được đồng trong hiều phong cách tiẳng Việt như: ~ Trong lời nói hàng ngày có những cách nói vĩ von rất hay, rất có hình ảnh, rất thẩm thía. Dân gian sử dụng biện pháp tu tử so sánh một cách sáng lạo trong thành ngữ, tục ngữ.

“Thí dụ: *“Trằng như tuyết”. “đen như mực”, "khóc như mưa”, “gly như mắm”, °nhanh như sóc”, "vui như tễt”, “đẹp như tiên", "hiển như bụt”, "béo như lợn”, “nhãn như khi”, “chạy như vịt", “hôi như cú”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ