CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sơ lược đặc điểm sinh học, sinh thái của bò tót 1. Đặc điểm nhận dạng Bò tót (Bos gaurus) là loài thú móng guốc, ngón chẵn, cỡ lớn, có thân hình to khỏe. Bò tót trưởng thành có đầu to, trán dẹp hơi lõm, có đốm trắng vàng trên đỉnh; vùng trán giữa 2 sừng nhô cao; cặp sừng rỗng lớn, gốc sừng to, màu vàng xám và cân đối, uốn cong lên phía trên tạo vòng cung hình bán nguyệt; mút sừng nhọn đen bóng.
Bò tót có bộ lông ngắn và mượt, màu lông thay đổi theo từng cá thể, từ nâu đen (con đực) và màu nâu vàng (con cái). Ở phần bụng lông dài hơn, màu nâu nhạt. Mông đen, bốn chân từ kheo trở xuống bàn chân màu trắng nhạt. Đuôi dài màu đen.
Ở điểm chính giữa của hai gốc sừng có phủ lớp lông dài màu nâu nhạt hoặc xám trắng. Bò tót non mới sinh màu vàng với đám lông sẩm dọc sống lưng, sau 4 - 5 tháng chuyển dần sang màu nâu đỏ. Bò tót đực có u thịt lớn, khá đặc trưng chạy từ gáy đến giữa lưng, được tạo bởi sự phát triển của gờ đốt sống thứ 3 đến 11. Lớp da ở cổ và trước ngực dài tạo thành yếm nhỏ.
Bò tót cái cũng có u thịt và yếm nhưng không phát triển như bò tót đực. Bò tót cũng là loài duy nhất trong họ Trâu bò có các tuyến tiết dầu ở da, có tác dụng để chống côn trùng, ký sinh trùng trên da và có thể có tác dụng đánh dấu sinh học. Đặc điểm tiết dầu trên da có thể quan sát rõ ở các cá thể bò tót đực vào mùa khô. Bò đực trưởng thành có thể đạt khối lượng trên 1.000kg, con cái thường nhỏ hơn con đực.
Các kích thước cơ bản của bò tót như sau: dài thân: 250 - 300cm, đuôi: 70 - 105cm, tai: 30 - 35cm, cao vai: 130 - 180cm. Sinh học, sinh thái Bò tót thường sinh sống ở các vùng tương đối bằng phẳng, độ cao dưới 1.800m, trong các kiểu rừng khác nhau (rừng khộp, rừng thường xanh, rừng hỗn giao tre nứa, … ) và khu vực đồng cỏ (Schaller, 1967). Chúng hoạt động trong nhiều kiểu sinh cảnh khác nhau và có xu hướng sinh sống thường xuyên hơn trong các khu rừng thường xanh và những khu vực cao hơn vào mùa khô (Prayurasiddhi, 1997). Vùng đất ven rừng, ven dòng nước, trong đó có những bãi cỏ mọc sau khi bị đốt cháy là những nơi bò tót đến kiếm ăn thường xuyên nhất.
Bò tót có thể sống trong vùng sinh cảnh bị suy thoái do hoạt động của con người. Chúng thường kiếm ăn trong khu vực canh tác của người dân. Bò tót ăn đồng thời cả cỏ và lá cây. Chúng ăn lá cây nhiều hơn các loài bò hoang dã khác.
Thức ăn của bò tót chủ yếu là cỏ, mầm lá non của lau sậy, chuối rừng, măng non tre nứa, dương xỉ và lá cây. Măng tre là một trong những thức ăn thường xuyên nhất của bò tót vào mùa mưa ở Thái Lan (Prayurasiddhi, 1997). Nguồn nước đảm bảo quanh năm là yếu tố rất quan trọng cho loài này. Nói chung, bò tót không đi xa nguồn nước quá một ngày đường (Conry, 1981).
Các điểm khoáng và suối giàu khoáng là những yếu tố rất quan trọng đối với bò tót. Phạm vi sinh sống của bò tót thay đổi theo giới tính, theo mùa, theo từng khu vực và quy mô đàn, dao động từ 27km2- 137km2 ở Malaixia (Conry, 1989). Phạm vi vùng hoạt động của bò tót vào mùa mưa rộng hơn vào mùa khô và đàn lớn có phạm vi hoạt động hàng năm rộng hơn đàn nhỏ. Tuy nhiên, phạm vi di chuyển mỗi ngày của bò tót lại không thay đổi giữa mùa khô và mùa mưa và chỉ khoảng 3 km/ngày (Prayurasiddhi, 1997).
Thời điểm bò tót hoạt động nhiều là ban đêm. Ban ngày, chúng nằm nhai lại thức ăn ở nơi quang đảng trong rừng hoặc trong những khu vực có cỏ cao. Bò tót sống thành từng đàn từ 3 - 40 cá thể. Trong đàn có con đực, con 5 cái trưởng thành, con bán trưởng thành (gần trưởng thành) và con non.
Cơ cấu đàn không thay đổi theo mùa. Trong đàn, mỗi cá thể có một vị trí riêng và vị trí thống trị được phân hạng bằng cách đánh nhau (Thomas, 1996). Khi con cái già nhất rời đàn đi kiếm ăn thì những con đực thống trị giữ vai trò bảo vệ cả đàn (Prayurasiddhi, 1997). Vị trí thống trị đàn được phân định bằng kích cỡ cơ thể (Schaller, 1967; Thomas, 1996).
Đôi khi, đàn bò tót đi kiếm ăn cùng với nai (Cervus unicolor). Khi bị tấn công những con đực khoẻ mạnh quây thành vòng tròn bảo vệ cho con non và con già ở giữa. Bò tót cái động dục và sinh sản vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, nhưng có thời điểm sinh sản nhiều nhất vào tháng 6 – 7 và phụ thuộc vào điều kiện môi trường. Mỗi lứa bò tót chỉ đẻ một con, thời gian mang thai khoảng 270 – 290 ngày.
Tuổi đời tối đa của cá thể nuôi nhốt là 24 năm (Thomas, 1996). Có rất nhiều loài thú ăn thịt săn bắt bò tót mới sinh và con non như hổ (Panthera tigris), báo hoa mai (Panthera pardus), báo gấm (Neofelis nebulosa), sói đỏ (Cuon alpinus),. nhưng chỉ có hổ là đủ dũng mãnh để có thể giết được những con bò tót trưởng thành. Tình trạng của loài bò tót trên Thế giới Theo Danh lục Đỏ của IUCN (2008), trên Thế giới bò tót phân bố tự nhiên ở các nước Nepan, Băngladesh, Butan, Ấn Độ, Myanma, Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Malaixia và Việt Nam.
Nhưng ngày nay số lượng bò tót trên thế giới còn lại ước tính từ 13.000 cá thể và hiện đang suy giảm nghiêm trọng do sự gia tăng dân số cao ở khu vực Đông Nam Á. Nguyên nhân chính khiến số lượng bò tót suy giảm như vậy là do nạn săn bắn, tình trạng phá hoại sinh cảnh, cạnh tranh nguồn thức ăn và nguy cơ lây bệnh từ bò nuôi. Ví dụ, số lượng bò tót ở Thái lan đã giảm tới 60% chỉ trong vòng 20 năm qua (Srikosamatara và Suteethorn, 1995). Nạn săn bắn bò 6 tót lấy sừng bán (vì sừng được coi là biểu tượng của uy quyền) là nguyên nhân chính dẫn tới sự suy giảm số lượng các quần thể còn sót lại.
Bò tót được đánh giá là đang bị đe dọa ở mức độ toàn cầu, Danh lục Đỏ IUCN, 2008 xếp bò tót ở mức độ Sắp bị đe dọa (VU). Do vậy, các chương trình bảo tồn nội vi (in situ) và ngoại vi (ex situ) đối với loài bò tót hiện nay là rất cần thiết. Tuy nhiên, việc bảo tồn ngoại vi chỉ có thể áp dụng với các quần thể rất nhỏ và vì vậy sẽ có nguy cơ đồng huyết cao. Tình hình nghiên cứu bảo tồn bò tót ở Việt Nam và Vườn Quốc gia Cát Tiên 1.
Các nghiên cứu bò tót ở Việt Nam Ở Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến bò tót được quan tâm từ lâu và gắn liền với các giai đoạn lịch sử chủ yếu của đất nước. • Giai đoạn trước năm 1954 Các nghiên cứu liên quan đến bò tót ở Việt Nam được bắt đầu sau khi người Pháp đến Đông Dương (cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20). Trong thời gian này, các nghiên cứu được các nhà nghiên cứu và thám hiểm nước ngoài thực hiện như Pháp, Anh và Mỹ. Các nghiên cứu được thực hiện chung cho nhiều nhóm động vật, chủ yếu về phân loại học và thu mẫu cho các bảo tàng như: Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Pari, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Luân Đôn, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ và Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Field, Chicago.
Các kết quả điều tra và thu mẫu đã được công bố trong các công trình của các tác giả như De Pousargues (1904), Bonhote (1907), Kloss (1916), Robinson & Kloss (1922), Thomas (1927:1928), Bourret (1927:1942), Osgood (1932) và Delacour (1940). Tuy nhiên, rất ít các thông tin về bò tót được nêu trong các báo cáo, kết quả nghiên cứu ở giai đoạn này. Các thông tin chủ yếu ở dạng liệt kê các mẫu động vật thu thập được ở vùng Đông 7 Dương. Ngoài ra, có một số sách viết về hoạt động săn bắn thú lớn ở Đông Dương, trong đó có các thông tin chung về bò tót cũng được một số tác giả như De Monestrol (1952), Demariaux (1949), Fraisse (1954) xuất bản.
Các thông tin về phân bố và nguồn gốc mẫu vật thu được ở Việt Nam trong thời kỳ này chỉ được ghi nhận theo các vùng như: Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ, mà không theo địa phương cụ thể như tỉnh hoặc chi tiết hơn, nên khó xác định vùng phân bố thực sự của bò tót. • Giai đoạn năm 1954 – 1975 Đây là giai đoạn đất nước trong thời kỳ chiến tranh, do vậy các nghiên cứu chủ yếu được các nhà khoa học Việt Nam thực hiện ở miền Bắc. Các nghiên cứu được thực hiện chung cho nhiều nhóm động vật, không có nghiên cứu chuyên khảo cho bò tót. Cũng như trước năm 1954, rất ít các thông tin về bò tót trong các nghiên cứu ở giai đoạn 1954 - 1975.
Tuy nhiên, một số thông tin về phân bố của bò tót có nêu trong các báo cáo không xuất bản về kết quả điều tra động vật ở miền Bắc. Ở phía Nam, nghiên cứu về thú móng guốc và bò tót hầu như không được thực hiện do chiến tranh. Chỉ có Van Peenen et al. (1969) đề cập thông tin về thú ở các tỉnh phía Nam trong giai đoạn này là thông tin về phân bố của bò tót ở Tây Nguyên và Bình Phước.
• Giai đoạn năm 1975 đến nay Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (1981), trong nghiên cứu “Kết quả điều tra nguồn lợi thú miền Bắc Việt Nam (1962-1976)”. Các tác giả đã ghi nhận được một số vùng phân bố của bò tót ở phía Bắc như các tỉnh Lai Châu, Thanh Hóa và Nghệ An. Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (1982), trong công trình “Khu hệ thú (Mammalia) ở Tây Nguyên” đã nêu thành phần loài, tiềm năng và giá trị 8 kinh tế, bảo tồn của thú lớn và bò tót ở Tây Nguyên. Đặng Huy Huỳnh (1986) trong tài liệu “Sinh học và sinh thái các loài thú Móng guốc ở Việt Nam” lần đầu tiên các thông tin về sinh học và sinh thái của bò tót ở Việt Nam được đề cập.
Đây là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về bò tót được thực hiện trong giai đoạn này.