Chương 1. Cơ sở lý luận về team building và thị trường team building; Chương 2. Sản phẩm team building phục vụ cán bộ nhân viên các ngân hàng nước ngoài tại Hà Nội; Chương 3. Xây dựng một số sản phẩm team building phục vụ cán bộ nhân viên các ngân hàng nước ngoài tại Hà Nội.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TEAM BUILDING VÀ THỊ TRƢỜNG TEAM BUILDING 1. Một số vấn đề cơ bản về team building 1. Khái niệm team building Một điều gần như chắc chắn là hiện nay, vào một lúc nào đó tại nơi học tập hay làm việc, mọi người phải làm việc theo nhóm dù có thích hay không. Làm việc nhóm (team-work) thực chất đã xuất hiện từ rất lâu trong thế giới tự nhiên cũng như lịch sử phát triển của loài người và nó mang đến nhiều giá trị to lớn không thể phủ nhận.
Để có một đội nhóm làm việc hiệu quả thì chắc chắn phải có quá trình xây dựng nhóm (team building) đúng đắn. Ở thế giới tự nhiên, loài kiến thường sống thành bầy đàn với tổ chức chặt chẽ có kiến chúa, kiến thợ, kiến lính. trong một tổ được làm trên cây hoặc dưới đất. Một số nghiên cứu cho thấy chúng xếp thứ 3 trong bảng xếp hạng những loài vật khỏe nhất hành tinh chỉ sau bọ hung và ve giáp.
Kiến có thể tha những vật có trọng lượng gấp 50 lần trọng lượng của chúng, tương đương với một người nặng 50 kg nâng được trọng lượng nặng 2,5 tấn. Mặc dù mạnh như vậy nhưng chúng không chọn cách làm việc độc lập, chúng luôn làm việc cùng nhau. Chính bằng sức mạnh của làm việc nhóm mà chúng có thể cùng nhau xây dựng những công trình đáng kinh ngạc như tổ kiến khổng lồ dưới lòng đất hay chống lại kẻ thù to khỏe hơn chúng. Thậm chí, chúng còn có thể tự sử dụng thân mình để cùng tạo nên một cây cầu sống nhằm mục đích rút ngắn khoảng cách tìm kiếm thức ăn cho đồng loại.
Chính vì vậy kiến được coi là biểu tượng của tinh thần đoàn kết với tổ chức nhóm khá hoàn hảo. [37] Trở về với xã hội loài người cổ đại xa xưa, một số công trình khảo cổ đã chỉ ra rằng cách đây khoảng 400.000 năm trước, con người đã tập hợp thành nhóm để săn những con voi có kích cỡ gấp đôi những con ngày nay chỉ với những công cụ thô sơ. Họ đã biết phân công nhiệm vụ rõ ràng trong một 7 z cuộc đi săn, mỗi người đảm nhận một vai trò riêng: người nhử mồi, người phi lao, người lăn đá. để có thể hạ gục con vật khổng lồ có sức mạnh khủng khiếp như vậy sau đó xẻ thịt chia nhau.
Đó hoàn toàn được coi là quá trình xây dựng và làm việc nhóm, khởi đầu cho sự phát triển của những quy trình xây dựng và làm việc nhóm phức tạp của con người ngày nay. Mặc dù hoạt động team building đã có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và mang lại những hiệu quả rõ rệt như vậy, song cho đến nay khái niệm “team building” vẫn được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Tuy chưa có một nhận thức thống nhất nào về khái niệm “team building” trên thế giới cũng như tại Việt Nam nhưng trước thực tế phát triển của xã hội và quá trình toàn cầu hóa thì việc nghiên cứu, thảo luận để đi đến khái niệm thống nhất về team building là một đòi hỏi khách quan. “Team building” là một từ ghép tiếng Anh, được hình thành bởi 2 từ “team” và “building”.
“Team” có nghĩa đã đội nhóm, “building” có nghĩa là xây dựng. Như vậy, “Team builing” có thể tạm dịch là xây dựng đội nhóm trong công ty hoặc tổ chức nào đó. Năm 1933, Elton Mayo, Nhà tâm lý học người Anh có viết: “Human collaboration in work, in primitive and developed societies, has always depended for its perpetuation upon the evolution of a non-logical social code which regulates the relations between persons and their attitudes to one another. Tạm dịch: Sự phối hợp của con người trong công việc, từ xã hội nguyên thuỷ đến xã hội phát triển, đã dựa vào sự phát triển của các quy tắc xã hội phi logic mà những quy tắc đó quy ước mối quan hệ giữa người này với người khác và thái độ của họ với nhau.
Nội dung nêu lên mối tương quan giữa con người với con người trong công việc, đặt nền tảng cho việc nghiên cứu quá trình xây dựng và phát triển đội nhóm. 8 z Ngoài ra, tinh thần đoàn kết cũng được thấy rõ trong truyền thống của dân tộc Việt Nam, tinh thần ấy được truyền tải qua những tác phẩm văn học dân gian Việt Nam như câu chuyện “Bó đũa” hay câu tục ngữ “Một cây làm chẳng nên non; Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Tinh thần đoàn kết dân tộc luôn được gìn giữ và phát huy mạnh mẽ trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, đặc biệt là trong công cuộc chống giặc ngoại xâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng khối đoàn kết toàn dân cũng đưa ra quan điểm: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công.
Năm 2006, Paul Tizzard, học giả người Anh đưa ra quan niệm: “Team building – a group of people are brought together who need to work at a more intimate level of understanding. They may have reached this stage over a period of time, but it is more likely that the manager is actively working to form them into a certain kind of team. 10] Tạm dịch: Xây dựng nhóm - tập hợp những cá nhân được chọn lựa cùng nhau, cần làm việc với nhau ở mức độ hiểu biết cá nhân sâu hơn. Họ sẽ đạt được ngưỡng này sau một thời gian tuy nhiên gần như chắc chắn người quản lý sẽ chủ động thành lập những nhóm như thế.
Năm 2007, Geneva cũng đưa ra quan điểm: “Team Building: The process of gathering the right people and getting them to work together for the benefit of a project. 4] Tạm dịch: Xây dựng nhóm: Quá trình tập hợp đúng người và giúp họ làm việc cùng nhau vì lợi ích của một dự án. Tóm lại, team building là một quá trình xây dựng đội nhóm dài hạn từ khi nhóm hình thành đến khi nhóm đạt được hiệu quả, hoàn thành được mục tiêu công việc. Mục đích team building Team building là tiền đề cho làm việc nhóm.
Bởi vì muốn đạt được hiệu quả công việc cao khi làm việc nhóm thì phải tổ chức được đội nhóm hoàn hảo, muốn có một đội nhóm hoàn hảo thì phải có một quá trình xây dựng đội nhóm đúng đắn. Nhóm lý tưởng là nhóm tập hợp bởi nhiều thành viên với đa dạng tính cách, được chọn lựa cẩn thận để đảm bảo không có bất cứ sự sai sót nào tác động tới công việc chung. Tuy nhiên, trong thực tế ít khi các nhóm làm việc được tổ chức tốt như vậy. Một nhóm có thể làm việc cùng nhau, chia sẻ, trò chuyện và dành thời gian cho nhau.
nhưng chưa thể coi đó là một nhóm đích thực. Những người lãnh đạo luôn muốn tổ chức nhóm và đạt được mục tiêu gắn kết chặt chẽ để hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất. Muốn thực hiện được điều đó đòi hỏi phải can thiệp bằng những tác động đúng đắn vào suốt quá trình phát triển của đội nhóm. Mục đích cụ thể của một chương trình team building là tìm hiểu được giai đoạn phát triển và vấn đề mà đội nhóm đang gặp phải, từ đó đưa ra những hoạt động nhằm giải quyết được những vấn đề đó một cách tối ưu để nhóm phát triển ở mức độ cao hơn vì mục tiêu chung của nhóm.
Tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng, có một số quan niệm đánh đồng team building với hoạt động vui chơi, giải trí đi kèm với chương trình du lịch để làm đa dạng hóa hơn những hoạt động du lịch nhưng thực chất thì không phải như vậy. Ngoài những yếu tố vốn có của chương trình du lịch thuần túy, một chương trình team building không chỉ mang giá trị vui chơi giải trí, nó còn mang trong đó giá trị gắn kết đội nhóm và thể hiện giá trị sẵn có của chính doanh nghiệp khách hàng. Đội nhóm nào đó có thể đang trong giai đoạn hình thành, nội bộ đang tranh cãi hoặc cần sự xúc tác. Mỗi bước phát triển của nhóm cần nhiều hoạt động khác nhau, vì vậy điểm mấu chốt nhất ở đây là biết điểm khởi đầu trước 10 z khi quyết định cần tác động điều gì.
Bất kỳ một sự kiện đội nhóm nào cũng sẽ là cơ hội để mọi người đến cùng nhau, trải nghiệm thứ gì đó đáng giá và trò chuyện về chúng sau đó. Mục đích cuối cùng của team building là giúp các nhóm đạt hiệu quả cao trong công việc. Tuy nhiên một nhóm hình thành, tồn tại và phát triển sẽ trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Những giai đoạn phát triển của nhóm đã được một số các học giả nghiên cứu.
Năm 1965, Bruce Tuckman đã đưa ra mô hình bốn hoạt động phát triển đội nhóm Tuckman gồm Hình thành – Sóng gió – Chuẩn hóa – Thi hành: Hình 1. Mô hình phát triển đội nhóm của Bruce Tuckman [Nguồn: Bruce Tuckman] Hình thành (Forming): Đây là giai đoạn định hình cho sự phát triển của đội nhóm, được đánh dấu bởi thời điểm một số người nhất định được tập hợp lại thành một đội vì một mục tiêu, mục đích chung nào đó. Ở giai đoạn này, các thành viên của đội giới thiệu và làm quen với nhau. Người ta trao đổi với nhau về nhiệm vụ và mục tiêu của đội dự định sẽ lập lên (sẽ làm ra sản phẩm gì, cần học hỏi, tìm kiếm thông tin gì.) và tìm đến những sự đồng thuận.
Ở những hợp quyết tự phát (ví dụ các đội sinh hoạt tự do) thì điều cần thiết để có thể hoạt động là những quan điểm và mục tiêu cá nhân phải tương đồng tối đa và tất nhiên là có một sự gần gũi về mặt địa lý thích hợp. Giai đoạn hình thành bao gồm các tình cảm và hành vi: Hưng phấn, hy vọng và lạc quan; Tự hào khi được chọn lựa để thực hiện dự án; Gắn kết với đội một cách dè dặt; Hoài nghi và lo âu về công việc; Định hình nhiệm vụ và cách thức hoàn thành nhiệm vụ đó; Xác định những hành vi thích hợp trong đội; Quyết định những thông tin nào cần thu thập. 11 z Sóng gió (Storming): Đây là giai đoạn mà bất kỳ đội nhóm mới hình thành nào cũng phải trải qua, họ phải đối mặt với những xung đột trong nội bộ.