Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thành quả nghiên cứu 1.1 Về đặc điểm phân bố của Sa nhân tím Một số nhà khoa học Trung Quốc cho biết chi Sa nhân (Amomum) thuộc họ gừng phân bố và phát triển tốt dưới tán rừng nhiệt đới, ven suối, nơi có ánh sáng tán xạ, tầng đất dày [28,29,30]. Các tác giả này cũng khẳng định rằng, loài Sa nhân này tập trung chủ yếu ở bốn tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây, Quảng Đông của Trung Quốc. Tuy nhiên, đến nay chưa thấy tác giả nào công bố nghiên cứu về loài Sa nhân tím - Amomum longiligulare T.
Về đặc điểm sinh trưởng của Sa Nhân tím Theo tạp chí sinh lý thực vật và sinh học phân tử của Li, Sheng, năm 2004 [28] đã nghiên cứu về đặc điểm sinh lý của loài Sa nhân Amomum villosum L., tác giả cho rằng quá trình quang hợp và sự lão hoá của lá Sa nhân có sự khác biệt nhau về vị trí của lá. Đồng thời tác giả khẳng định sự quang hợp của lá Sa nhân có liên quan đến quá trình lão hoá của lá. Tuy nhiên, tác giả cũng chưa đem ra được con số cụ thể về sự ảnh hưởng của ánh sáng (tức lá quá trình quang hợp) tới sinh trưởng phát triển của Sa Nhân. Theo một nhóm tác giả khác như Gao L, Liu H, Gui J, Nie Z, Dua Q [29] cho biết rằng họ đã nghiên cứu về sự phát triển bền vững đối với mô hình trồng Sa nhân ở Xishuagiangbanna tỉnh Quảng Đông Trung Quốc và họ ghi nhận được quá trình sinh trưởng và phát triển của loài Sa nhân, cụ thể là loài Sa nhân sống và sinh trưởng tốt dưới tán rừng nhiệt đới và sau 3 năm là cho thu hoạch.
Tuy nhiên, nhóm tác giả này cũng mới chỉ dừng lại ở mức quan sát 4 theo dõi và đem ra kết luận mà chưa đi sâu nghiên cứu, đo đếm cụ thể như chiều cao thân cây, số khóm cây, vv. Theo nhóm tác giả Feng Z, Gan J, Zheng Z, Feng Y [30] cho biết rằng khi họ nghiên cứu so sách năng suất của loài Sa nhân Amomum villosum L. ở dưới tán rừng mưa mùa nhiệt đới và rừng thứ sinh thì thấy được sự sinh trưởng của loài này ở hai loại rừng trên có sự khác biệt đáng kể. Cụ thể là, số khóm và chiều cao của cây Sa nhân dưới tán rừng mưa mùa nhiệt đới cao hơn rất nhiều so với Sa nhân dưới tán rừng thứ sinh.
Đặc biệt nhóm tác giả này cũng đã nghiên cứu được sự khác biệt về số lượng chồi và cây giống của loài Sa nhân khi trồng ở hai loại rừng trên. Cụ thể là tổng chồi và cây giống Sa nhân ở dưới tán rừng nhiệt đới mưa mùa và dưới tán rừng thứ sinh lần lượt 3,95 và 1,66. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả trên cũng chỉ mới dừng lại ở mức trồng và theo dõi sinh trưởng, phát triển của loài Sa nhân Amomum villosum L. ở hai loại rừng nói trên mà chưa quan tâm theo dõi sự ảnh hưởng của các yếu tố khác ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của loài này như yếu tố về dinh dưỡng trong đất, hướng phơi, độ dốc, độ cao và đặc biệt là cường độ ánh sáng.
Về sản lượng quả của Sa nhân tím Theo nhóm tác giả Gao L và cộng sự [29] cho biết năng suất Sa nhân Amomum villosum L. là tương đối lớn, với diện tích 5811 ha Sau ba năm cho năng suất 542 tấn (1998) và quá trình này có thể kéo dài hơn chục năm. Tương tự theo nhóm tác giả Feng Z và cộng sự ở trên [28] cho biết quá trình phát triển của Sa nhân dưới tán rừng nhiệt đới mưa mùa và rừng thứ sinh là rất khác nhau. Cụ thể, xét về mặt sinh khối thì như trên đã nói sinh khối của Sa nhân trồng dưới tán rừng nhiệt đới mưa mùa cao hơn Sa nhân trồng dưới tán rừng thứ sinh nhưng xét về mặt năng suất thì nhóm tác giả này lại khẳng định năng suất của Sa nhân trồng dưới tán rừng thứ sinh (78,068 kg /ha) cao hơn dưới tán rừng nhiệt đới mưa mùa khoảng (trên 0,6 lần).
Điều này cũng là 5 câu hỏi đặt ra cần được nghiên cứu kỹ hơn về điều kiện lập địa và các điều kiện ngoại cảnh khác ảnh hưởng đến sự đơm hoa, kết quả của loài Sa nhân này nói riêng và các loài thực vật khác nói chung. Tồn tại nghiên cứu Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây chưa chỉ ra được các nguyên nhân ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của Sa nhân Amomum villosum L. Cụ thể như ánh sáng (cường độ chiếu sáng), điều kiện thổ nhưỡng (các hàm lượng dễ tiêu như P205, pH, mùn, N20, .), độ dốc, độ ẩm đất trung bình tháng, hướng phơi,. Ngoài ra các tác giả cũng chưa đề cập đến mùa ra hoa, quả của loài Sa nhân, đặc biệt là ở hai loại rừng nói trên (rừng thứ sinh và rừng nhiệt đới mưa mùa).
Thành quả nghiên cứu 1. Về đặc điểm phân bố của loài Sa nhân tím - Theo Nguyễn Tập và cộng sự (1995), cho biết cả hai loài: Sa nhân tím (Amomum longiligulare T.) và loài Sa nhân (A.) đều có vùng phố rộng từ bắc vào nam, tập trung ở các tỉnh trung du miền núi. Mọc tự nhiên dưới tán rừng thứ sinh, ven suối, nơi có độ ẩm đất tốt [21]. - Trong những năm gần đây trung tâm nghiên cứu dược liệu đã triển khai trồng thử nghiệm thành công loài Sa nhân tím (Amomum longiligulare T.) dưới tán rừng trồng và thứ sinh thuộc các tỉnh Quang Nam, Bình Định, Phú Thọ, Thái Nguyên, Hoà Bình [27].
- Một số tác giả khác khi nghiên cứu về loài Sa nhân tím (Amomum longiligulare T. Wu) điển hình như tác giả: Võ Văn Chi, 1997 [5]; Nguyễn Chiều, 1991, 1993 [6,7]; Nguyễn Tập, 1995 [21]; Nguyễn Thanh Phương, 2001 [18]; Đào Lan Phương, 1995 [17]; Nguyễn Thị Phương Lan, 2004 [15]; Nguyễn Đình Cầm, 1985 [3]; Đinh Văn Tự, 2001[25]; đều cho rằng phân bố 6 tự nhiên của loài Sa nhân tím tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía nam, đặc biệt là Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, Đăk Lắc. Sa nhân tím thuộc loại cây có biên độ sinh thái rộng, cây thích nghi cao với điều kiện khí hậu nhiệt đới điển hình ở các tỉnh phía Nam, với hai mùa mưa và khô rõ rệt, nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 22 - 240C. Tuy nhiên khi đưa loài này ra bắc trồng (Phú Thọ, Thái Nguyên, Hoà Bình) vẫn sinh trưởng tốt [18].
Điều này chứng tỏ loài Sa nhân tím có vùng sinh thái tương đối rộng. Về đặc điểm sinh trưởng của loài Sa nhân tím - Theo tác giả Võ Văn Chi [5], từ điển cây thuốc Việt Nam] mô tả, thì loài Sa nhân tím - Amomum longiligulare T. Wu còn có các tên khác như Sa nhân lưỡi dài, Mè tré bà, Hải nam Sa nhân. Tác giả mô tả về loài này bao gồm một số đặc điểm chính như sau: + Về đặc điểm hình thái: loài Sa nhân tím- Amomum longiligulare T.
là cây thảo sống lâu năm, cao 1 - 2m. Thân rễ mãnh. Lá có phiến thon, dài 20-30cm, rộng 2,5cm, không lông, lá kèm (mép) cao 2 - 4,5cm. Cụm hoa đồ thân rễ, thấp ở đốt, hoa ít, vàng nâu nâu.
Quả nang xoan, tím, có gai nhỏ, cong cong, hột tròn hay xoan, hơi dẹp 1,5 - 2,2cm x 0,8 - 1,2cm, màu tia tía. Ra hoa khoảng tháng 4 - 6, quả khoảng tháng 6 - 9. - Nguyễn Tập và cộng sự (1995) [21] cho biết, khi trồng loài Sa nhân tím này ở miền bắc thì mùa sinh trưởng mạnh của cây trùng với mùa mưa ẩm. Cây có khả năng đẻ nhánh khoẻ từ thân rễ.
Vụ chồi đầu ra nhiều vào mùa xuân - hè; vụ sau là hè - thu. Nhánh cây chồi khi được 1 năm tuổi trở lên có thể ra hoa quả. Mùa hoa chủ yếu tập trung vào tháng 4 - 5, quả già vào khoảng tháng 7. Ngoài ra, ngay khi chưa kết thúc vụ hoa quả này, từ tháng 6 đến tháng 7 cây lại ra thêm lứa hoa nữa, quả già vào tháng 10 (14).
Tuy nhiên, lứa hoa quả thứ hai thường ít hơn nhiều so với lứa đầu. - Nguyễn Thị Phương Lan, 2004 [15] cho biết hầu hết Sa nhân tím (Amomum longiligulare. Wu) mọc hoang dại ở các xã miền núi tỉnh Ninh 7 Thuận đều sinh trưởng tốt, khả năng đẻ nhánh mạnh, trung bình 6 - 7 nhánh/khóm, chiều cao trung bình từ 0,7 - 1m, ra hoa từ tháng 5 - 6. - Nguyễn Ngọc Đạo và cộng sự, 2007 cho biết khi nghiên cứu quy trình kỹ thuật trồng, thu hoạch và bảo quản, dược tích của loài Sa nhân tím tại tỉnh Bình Định thì tác giả thử nghiệm trên hai loại hình rừng: Rừng tự nhiên và rừng trồng keo tại tượng Acacia mangium L., với đặc điểm rừng trồng như sau: Rừng phòng hộ, loài cây trồng keo tai tượng 6 năm tuổi, đã trồng làm giàu rừng bằng cây muồng đen 3 năm tuổi và đã khai thác tỉa thưa cây keo tai tượng 20%, độ tàn che của rừng 0,5-0,6 (mật độ trồng keo tai tượng 1000 cây/ha, mật độ Muồng đen 500 cây/ha), độ cao tuyệt đối 600m, độ dốc 8 0, đất feralit phát triển trên đá mẹ granit có màu xám nâu, độ dày tầng đất từ 70 - 90 cm, thành phần cơ giới thịt nhẹ.
Trồng theo 3 công thức Sau: công thức 1: NPK 0,05 kg/hố; công thức 2: NPK 0,05 kg + 0,1kg vi sinh/ hố; công thức 3: NPK 0,05 kg + 0,2 kg/hố. Kết quả theo dõi sinh trưởng ở hai loại rừng nói trên như Sau: Sau khi trồng 11 tháng tỷ lệ sống sót của loài này ở hai loại hình rừng là rừng tự nhiên (95%), rừng trồng (90%); số lượng cây đẻ nhánh ở công thức 2, 3 lớn hơn công thức 1. Sâu bệnh hại ít chủ yếu là sâu xám, sâu róm, bọ nẹt xanh, bệnh khô lá, nấm muội. Về đặc điểm sản lượng quả Sa nhân tím Tương tự ở phần trên, theo Nguyễn Ngọc Đạo và cộng sự (2004), cho biết sản lượng quả (năng suất) thu được từ mô hình trồng Sa nhân tím dưới hai tán rừng với ba công thức (phần trên 2.2) như Sau: Sau khi trồng Sa nhân tím 30 tháng tuổi, tỷ lệ cây ra hoa tương đối cao với 86 - 91,7%, Sau 33 tháng tuổi tỷ lệ cây ra hoa là 100%; năng suất trồng dưới tán rừng từ nhiên là 138 - 156 kg/ha; năng suất trồng dưới tán rừng trồng keo tai tượng là 272 - 322 kg/ha.
Ngoài ra, năng suất trồng dưới tán rừng tự nhiên năm thứ 4 thấp hơn so với dưới tán rừng trồng.