Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu phân bố rừng ngập mặn Rừng ngập mặn chủ yếu phân bố ở các vùng cửa sông ven biển vùng nhiệt đới và một số loài ở vùng á nhiệt đới, dọc những cửa sông lớn, thảm thực vật rừng ngập mặn phát triển sâu vào trong nội địa. Theo đánh giá của Hutchings và Saenger (1987) [29], diện tích rừng ngập mặn trên thế giới là 15.000 ha nằm trong vùng Châu Á nhiệt đới và Châu Đại Dương; 5.000 ha nằm ở vùng Châu Mỹ nhiệt đới và 3.000 ha thuộc Châu Phi. Trên phạm vi toàn cầu, Wash,1974 (dẫn theo Trần Lâm Đồng,2007) [7].
Cho rằng sự phân bố địa lý của rừng ngập mặn trên thế giới thành hai khu vực chính là Ấn Độ-Thái Bình Dương bao gồm Nam Nhật Bản, Philippinese, Đông Nam Á, bờ biển Hồng Hải, Đông Phi, Australia, New zealand, các đảo phía Nam Thái Bình Dương kéo dài tới quần đảo Samoa và khu vực Tây phi - Châu Mỹ bao gồm bờ biển Châu phi ở Đại Tây Dương, quần đảo Galapalos và Châu Mỹ. Khu vực Ấn Độ - Malaysia được xem là trung tâm phân bố các loài ngập mặn. Trong đó hệ thực vật rừng ngập mặn ở Đông Nam Á được đánh giá là phong phú nhất thế giới với 46 loài chủ yếu thuộc 17 họ và 158 loài gia nhập thuộc 55 họ. Các vùng rừng ngập mặn phồn thịnh nhất ở Đông Nam Á bao gồm Indonexia, Malaysia, Thailand và Việt Nam.
Nghiên cứu đặc điểm thể nền của RNM Thể nền ở các khu rừng ngập mặn là một nhân tố quan trọng nhưng còn ít các công trình nghiên cứu. Baltzer có một số công bố về trầm tích ở Caleddonia; Veillerfor viết về hóa học đất và thổ nhưỡng ở Senegal; Pons về đất sunphataxit; Moormanm về nguồn gốc các loại đất phèn ở Thái Lan. 4 Sự tồn tại và phát triển của rừng ngập mặn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: khí hậu, thủy triều, độ mặn, thể nền địa hình, các dòng hải lưu, các nhân tố sinh học là những yếu tố ảnh hưởng tới rừng ngập mặn. Người dày công nghiên cứu các vùng nhiệt đới ở Nam Mỹ, Trung phi và Đông Nam Á là Richard (1952) [17] với tác phẩm “rừng nhiệt đới”.
Trong tác phẩm này tác giả đã nghiên cứu về địa mạo cấu trúc, thành phần và điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu…) của kiểu rừng nhiệt đới cũng như diễn thế của chúng bằng phương pháp điều tra thu thập số liệu cơ bản, trong đó có các quần xã rừng ngập mặn. Đất RNM có nguồn gốc là phù sa lắng đọng ở những nơi dòng nước yếu. Lớp trên cùng của bùn sét, phần dưới bắt đầu cứng chặt. Đất rừng ngập mặn thường chứa nhiều chất dinh dưỡng do nước triều mang đến nhưng rất thiếu oxy.
Dưới rừng ngập mặn có quá trình tích lũy liên tục thực vật gãy đổ già cỗi của nhiều thế hệ. Chúng lẫn trong đất tạo lên những tầng sinh phèn dưới mặt đất làm cho lượng phèn luôn ở độ cao. Hoạt động thủy triều hàng ngày làm cho đất có độ mặn trung bình khoảng 1500/0-2500/0. Tính chất lý, hóa học của đất phụ thuộc vào nhiều nguồn gốc phù sa và trầm tích ( Hutchings P, và Saenger P.
Danh mục thực vật của RNM thế giới với số loài dao động từ 50 đến 75 loài (Lugo và Snedaker,1974); Saenger và cộng sự, 1983; Blasco, 1984 (dẫn theo Trần Lâm Đồn,2007) [5]. Các chi thực vật phổ biến nhất ở RNM thuộc các chi Mắm, Đước, Vẹt, Da, Giá và Bần. RNM là nơi cư chú của hàng chục loài thú, hơn 200 loài chim, nhiều loài tôm cá và động vật nhuyễn thể. Tuy nhiên, do điều kiện ngập nước và độ mặn cao nên tổ thành rừng ngập mặn rất đơn giản, hiện tượng ưu thế loài rất rõ với cấu trúc phổ biến là một tầng cây gỗ.
Có rất ít loài cây bụi và cây thân cỏ dưới rừng ngập mặn. Nghiên cứu phân bố rừng ngập mặn ở Việt Nam Việt Nam là nước nhiệt đới có lượng mưa tương đối lớn và có điều kiện thuận lợi cho rừng ngập mặn sinh trưởng, phát triển đặc biệt là vùng Nam Bộ. Theo Paul Maurand, năm 1943 diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam 408. Trải qua 2 cuộc chiến tranh và khai thác quá mức, phá rừng lấy đất sản xuất nông nghiệp, làm đầm nuôi thủy sản diện tích rừng ngập mặn Việt Nam bị suy giảm nhanh chóng.
Theo Ngô Đình Quế (2003) [16], năm 2000 diện tích rừng ngập mặn Việt Nam còn 155. Ông cũng dựa vào sự khác nhau về điều kiện địa lí tự nhiên để phân chia thảm thực vật rừng ngập mặn ven biển nước ta theo 3 miền Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ thành 6 vùng chính và 12 tiểu vùng.1: Phân vùng rừng ngập mặn Việt Nam Miền Vùng Tiểu vùng Ghi chú 1. Móng cái - Ba chẽ I. Ba chẽ - Uông Bí (Quảng Ninh) biển bắc 3.
Uông Bí - Yên Hưng bộ 4. Nam triệu - Văn Úc Hệ thống sông Thái Bình II. Đồng bằng Bắc Bộ 5. Văn Úc - Lạch trường Hệ thống sông Hồng B.
Bắc Trung Bộ 6. Lạch trường - Rôn biển 7. Rôn - Hải Vân Trung Bộ IV. Nam Trung Bộ 8.
Hải Vân - Vũng Tàu Ba Na 586 km V. Đông Nam Bộ 9. Vũng Tàu - Soài Rạp Vũng Tàu - TPHCM C. Soài Rạp - Mỹ Thạnh Biển Đồng Bằng Sông Cửu VII.
Mỹ Thạnh - bảo Háp Nam Bộ Long, Tây Nam bán Nam Bộ (Mũi Cà mau) đảo Cà Mau 12. Bảo Háp - Hà Tiên Tây bán đảo Cà Mau (Mũi Hai ) ( Nguồn Ngô Đình Quế, 2003 ) [16] 6 Về tổ thành thực vật theo tài liệu Sổ tay hướng dẫn điều tra và giám sát đa dạng sinh học (2003), Rừng ngập mặn ở Việt Nam có hơn 100 loài cây. Trong đó có 36 loài cây ngập mặn thật sự và 70 loài cây tham gia với mức độ phân bố không giống nhau. Nghiên cứu đặc điểm thể nền Khi nghiên cứu đặc điểm của thủy triều liên quan đến sự phân bố và phát triển của rừng ngập mặn Việt Nam một số nước Đông Nam Á, Phan Nguyên Hồng (1991) [10] có nhận xét: khi có điều kiện khí hậu và đất không có sự khác biệt lớn, vùng có chế độ bán nhật triều cây sinh trưởng tốt hơn vùng nhật triều.
Người có công trình nghiên cứu nhất trong lĩnh vực hết sức thú vị nhưng cũng rất khó khăn đó là Phan Nguyên Hồng, tác giả này đã có nhiều công lao trong việc nghiên cứu các nhân tố sinh thái cơ bản, phân bố, diễn thế và phân bố vùng ngập mặn, vai trò tiềm năng của rừng ngập mặn… Năm 1991 trong luận án tiến sỹ về sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam. Phan Nguyên Hồng đã nhận xét “Khả năng tăng trưởng về đường kính chiều cao cây phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện lập địa, chất đất, chế độ thủy chiều và mật độ cây”. Phan Nguyên Hồng (1991) [10] cũng có nhận xét: “Khi điều kiện khí hậu và đất không có sự khác biệt thì vùng có chế độ bán nhật triều cây sinh trưởng tốt hơn những vùng có chế độ nhật triều”. Vì thời gian đất phơi trống cũng ngắn, hạn chế sự bốc hơi nước trong đất và trong cây, nhất là thời kỳ nắng nóng.
Năm 1994 Nguyễn Mỹ Hằng và Phan Nguyên Hồng [8] tìm hiểu ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến sự sinh trưởng phát triển của một số loài cây họ Đước (Rhizphoraceae) trồng ở điều kiện thí nghiệm cho thấy “Nhiệt độ thấp đã ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của một số loài cây rừng ngập 7 mặn cho dù các loài đó đã sống qua nhiều thế hệ. Cây ở miền Bắc chịu rét tốt hơn cây ở miền Nam”. Ngô Đình Quế (2003) [16], đã dựa vào sự khác nhau về các điều kiện địa lý tự nhiên để phân chia thảm thực vật rừng ngập mặn và đất ngập mặn ven biển nước ta theo 3 miền: Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ. Lê Văn Hiển và Mai Sĩ Tuấn (2003) [21], đề tài “Bước đầu nghiên cứu năng suất rơi rụng và cấu trúc rừng tự nhiên tại Vườn Quốc gia Xuân Thủy, Giao thủy, Nam Định”, đề tài đã đưa ra một số nhận xét, năng suất lượng rơi phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, năng suất của cây Bần chua luôn cao hơn cây Mắm biển.
Các loài cây ngập mặn ra hoa kết quả vào mùa mưa ( tháng 5-9 ) để thuận lợi cho việc nảy mầm của hạt. Tại VQG Xuân Thủy có 12 loài thực vật thuộc 9 họ, trong đó có 6 họ thuộc cây ngập mặn “thực thụ” và 3 họ cây tham gia rừng ngập mặn. Mật độ của cây rừng là 2,38 cây/m2 với 4 loài cây chủ yếu quyết định năng suất sinh học của rừng là Bần chua. Mắm biển, Sú và Trang.
Độ tàn che đạt 0,96. Cũng như các nhà khoa học trên thế giới, các nhà khoa học Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về thể nền, thảm thực vật và cấu trúc rừng ngập mặn trong những năm gần đây. Kết quả của chúng ta là tư liệu quan trọng để kế thừa và phát triển cho những nghiên cứu hoàn chỉnh hơn, nhằm sử dụng hiệu quả RNM để phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Đánh giá chung 1.
Những thành quả - Xác định được những đặc điểm cơ bản, tính chất của thể nền như: độ cao thể nền, đặc tính của thể nền và sự bồi tụ trầm tích… - Đặc điểm cấu trúc QXTV RNM trên các dạng thể nền như: thành phần loài cây, tầng thứ, mật độ… - Một số đặc điểm tái sinh rừng ngập mặn như: mật độ, phân bố, chất 8 lượng cây tái sinh. - Ảnh hưởng của một số nhân tố đến khả năng tái sinh RNM. - Một số giải pháp để điều tiết cấu trúc và tái sinh RNM. Những tồn tại - Hiện nay nhu cầu hiểu biết về rừng ngập mặn để quản lý có hiệu quả là rất cao.
Tuy nhiên còn ít nghiên cứu về đặc điểm thể nền rừng ngập mặn. - Chưa có nhiều nghiên cứu về những đặc điểm TTVR ngập mặn từ góc nhìn của kỹ thuật lâm sinh. - Việc nghiên cứu về đặc điểm thể nền và thảm thực vật rừng ngập mặn đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Nhưng để đi sâu vào nghiên cứu cụ thể thì chưa có, nhằm góp phần bổ sung thông tin và cơ sở khoa học giúp công tác quản lý, bảo tồn và phát triển RNM tại huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình có hiệu quả.
Vì vậy, đề tài này được thực hiện nhằm góp phần giải quyết một số mục tiêu nêu trên. 9 Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.