Chương 1. Nền tảng lý thuyết của bài nghiên cứu và nội dung các nghiên cứu trước đây. Nền tảng lý thuyết:. Rủi ro hệ thống.
Vấn đề khai thác tín hiệu , rủi ro, sự không chắc chắn và hành vi có hệ thống của các ngân hàng. Các nghiên cứu trước đây. Nguồn dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Mô tả dữ liệu .1 Các biến đại diện cho hành vi nhất quán (bầy đàn) của của ngân hàng: .2 Đòn bẫy tổng hợp (dtl):.
Tăng trưởng GDP đo lường mức sức mạnh tăng trưởng kinh tế. Lạm phát là nhân tố bóp méo tín hiệu đưa ra bởi giá cả tương đối. Output gap đo lường chu kỳ kinh doanh. Phương pháp nghiên cứu: .1 Mô hình trong bài nghiên cứu trong bài nghiên cứu của Christian Calmes và Raymond Theoret (2014) .2 Mô hình EGARCH của Nelson (1991) .3 Phương pháp nghiên cứu trong bài.
Kết quả nghiên cứu. Kiểm định tính dừng. Ước lượng OLS và kiểm định phương sai thay đổi (ARCH test). Ước tính EGARCH cho disp(lta) và disp(snonin).
Khả năng giải thích của rủi ro và sự không chắc chắn của vĩ mô với rủi ro hệ thống 45 4. Kiểm tra tính vững của mô hình bằng cách lượng cho lta và snonin. 51 DANH MỤC VIẾT TẮT ADF: Thống kê kiểm định Dickey-Fuller AIC:Tiêu chuẩn thông tin Akaike AR:Quá trình tự hồi quy ARMA:Quá trình trung bình trượt tự hồi quy EGARCH:Mô hình GARCH dạng mũ GDP:Tổng sản phẩm quốc nội MA:Quá trình trung bình trượt ECB: Ngân hàng Trung ương Châu Âu DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 3.1: Biểu đồ tỷ số cho vay / tài sản (lta) và tỷ số thu nhập ngoài lãi trên thu nhập hoạt động thuần (snonin) trung bình của các ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu .2: Biểu đồ tăng trưởng GDP theo quí 1 năm 2006 đến quí 4 năm 2010.3: Biểu đồ tăng trưởng GDP và phương sai tỷ số dư nợ/ tài sản từ quý 1 năm 2013 đến quý 3 năm 2016.4: Biểu đồ tăng trưởng GDP và phương sai tỷ số thu nhập ngoài lãi/ thu nhập hoạt động thuần từ quý 1 năm 2013 đến quý 3 năm 2016.5: Biểu đồ của biến inf đại diện cho rủi ro lạm phát từ quý 1 năm 2013 đến quý 3 năm 2016. 25 DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Kỳ vọng về dấu.1: Thống kê mô tả cho dữ liệu ngân hàng.2: Thống kê mô tả cho dữ liệu mức đòn bẩy tổng hợp.3: Tóm tắt nguồn dữ liệu.1: Kết quả kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình.2 : Kết quả tính dừng sai phân bậc 1.3: Kết quả ước tính OLS cho disp(lta) và disp(snonin) .4 : Kết quả kiểm định phương sai thay đổi (ARCH-test).5 : Kết quả EGARCH(1,1) .6 : Độ co dãn ngắn và dài hạn của các chỉ số vĩ mô và đòn bẩy tổng hợp.7 : Kiểm định tính dừng của lta và snonin .8 : Kết quả EGARCH(1,1) cho lta và snonin.
49 1 Tóm tắt bài nghiên cứu Đề tài nghiên cứu này thực hiện kiểm tra rủi ro hệ thống (systemic risk) của ngân hàng Việt Nam trong mối quan hệ với các cú sốc kinh tế vĩ mô. Ý tưởng của bài nghiên cứu là về hành vi đồng nhất của các ngân hàng khi có các cú sốc kinh tế vĩ mô tạo nên rủi ro hệ thống hay nói khác hơn liệu rằng các ngân hàng có hành động giống nhau (như là một nhóm) khi đối mặt với những rủi ro và sự không chắc chắn của kinh tế vĩ mô. Phương pháp tiếp cận của bài nghiên cứu là mô hình EGARCH. Mô hình EGARCH được sử dụng trong bài nghiên cứu vì nó có thể giải quyết được các vấn đề được đặt ra trong các bài nghiên cứu trước là về vấn đề phương sai thay đổi và tác động sự bất đối xứng mà mô hình OLS và GMM không thể khắc phục được.
Mô hình ước tính tác động rủi ro và sự không chắc chắn của các nhân tố vĩ mô với phương sai của của lta (tỷ số dư nợ /tổng tài sản) và snonin (tỷ số thu nhập ngoài lãi /thu nhập hoạt động ròng) như trong mô hình trong bài nghiên cứu của Baeudry (2001) và được phát triển bởi Baun và các cộng sự (2002,2004, 2009), Quagliariello (2007, 2009) và Christian Calmes, Raymond Theoret (2014) và đã được điều chỉnh để phù hợp với Việt Nam. Mối quan hệ trong bài được nghiên cứu trong bối cảnh ngân hàng dựa vào thị trường. Biến đại diện để đo lường rủi ro hệ thống ngân hàng là disp(lta) và disp(snonin) là phương sai của tỷ số lta và snonin, khi disp(lta) và disp giảm nghĩa là các ngân hàng hành động đồng nhất hơn trước các cú sốc vĩ mô, do đó làm tăng rủi ro hệ thống. Các nhân tố kinh tế vĩ mô trong mô hình nghiên cứu là tốc độ tăng trưởng kinh tế, lỗ hổng sản lượng (output_gap), lạm phát đại diện cho rủi ro vĩ mô.
Ngoài ra, còn có các biến sự không chắc chắn trong tăng trưởng GDP và sự không chắc chắn lạm phát được tính bằng phương sai có điều kiện của tăng trưởng GDP và lạm phát. Sự khác biệt của bài so với các nghiên cứu trước là có sự phân biệt giữa rủi ro va sự không chắc chắn. Chúng là những nhân tố được cho rằng là tác động đến rủi ro hệ thống của ngân hàng tại Việt Nam, dữ liệu được thu thập hàng quý trong giai đoạn quý 1 năm 2006 đến quý 3 năm 2016. Bài nghiên cứu đã tìm ra mối quan hệ nghịch chiều giữa disp(lta) và disp(snonin) với các sự không chắc chắn trong tăng trưởng, sự không chắc chắn trong lạm phát.
Kết quả phù hợp với giả thuyết của bài nghiên cứu và kết quả của các nghiên cứu trước đây. Nhờ kết quả của mô hình EGARCH (1,1), bài nghiên cứu cũng cho thấy có sự tác động của disp(lta) và disp(snonin) trong qua khứ đến hiện tại, do độ trễ của biến phụ thuộc trong mô hình có ý nghĩa thống kê. Bài nghiên cứu đã sử dụng mô hình EGARCH để ước tính do đó có sự phân biệt được ảnh hưởng của cú sốc âm và cú sốc 2 dương, kết quả cho thấy trong phạm vi các biến vĩ mô trong nghiên cứu cho ta kết quả có tồn tại hiệu ứng đòn bẫy trong thời kỳ nghiên cứu. Tiếp sau các mô hình nghiên cứu, để so sánh sức ảnh hưởng của các yếu tố ngoại sinh chính xác hơn, hệ số co dãn sẽ được tính toán cho từng biến vĩ mô.
Qua đó ta thấy đòn bẩy là mạnh nhất, đặc biệt là khi tính cho disp(lta), điều đó cho thấy đòn bẩy có tác động khá lớn với các hoạt động cho vay tại các ngân hàng ở Việt Nam. Để bảo đảm tính vững cho kết quả nghiên cứu trong phần sau của bài sẽ tiến hành ước lượng EGARCH trực tiếp cho biến lta và snonin, với kỳ vọng là cùng có mối quan hệ tương tự giữa lta và snonin như chúng ta thấy giữa disp(lta) và disp(snonin). Kết quả kiểm tra phù hợp với mô hình ước tính ở phần trên của bài nghiên cứu. Giới thiệu Bất ổn tài chính và khủng hoảng là hiện tượng định kỳ trong lịch sử, mặc dù không thường xuyên (Kindleberger, 1978; Reinhart và Rogoff, 2009).
Cuộc khủng hoảng nổ ra vào tháng 8 năm 2007 và đến tháng 9 năm 2008 với sự sụp đổ của Lehman Brothers kết hợp với một số sự kiện khác đã trở thành sự sụp đổ có hệ thống. Đây là một trong những minh họa rõ ràng nhất trong lịch sử về một thực tế rằng hệ thống tài chính có thể có "rủi ro hệ thống" (systemic risk), trong đó các ngân hàng đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Một ví dụ khác là các cuộc khủng hoảng ngân hàng trong thời kỳ Đại khủng hoảng năm 1930 và của Nhật Bản và các nước Bắc Âu trong những năm 1990. Trong khi các nghiên cứu trước đó đã đưa ra nhiều yếu tố tác động sự bất ổn tài chính, song hiện nay rủi ro hệ thống (systemic risk) đang được chấp nhận rộng rãi như là một khái niệm cơ bản cho các nghiên cứu về những bất ổn tài chính nghiêm trọng.
Sau sự sụp đổ của Lehman Brothers năm 2008 gây ra các tác động lan tỏa này dẫn đến hiệu ứng đô-mi-nô và gây ra rủi ro nghiêm trọng đến hệ thống tài chính tại Mỹ. Sau sự kiện sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng của Mỹ thì vấn đề rủi ro hệ thống (systemic risk) đặt biệt được quan tâm. Các bài nghiên cứu gần đây đã tập trung vào nghiên cứu những rủi ro hệ thống trong các mạng lưới phức tạp hơn. Rõ ràng, trong cuộc khủng hoảng năm 2008, các hành vi theo nhóm do sự tương tác giữa các công ty không phải là đơn giản và rất khó khăn để dự đoán.
Trong thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu đã tập trung vào các vấn đề đo lường và tránh rủi ro hệ thống trong mạng lưới phức tạp. Đã có nhiều bài nghiên cứu về đề tài này, song đến hiện nay chưa có một sự thống nhất về định nghĩa của rủi ro hệ thống trong các bài nghiên cứu. Trong bài này phân tích rủi ro hệ thống ngân hàng đứng trên khía cạnh việc các ngân hàng phản ứng lại các cú sốc ngoại sinh có thể dẫn đến tạo ra một mẫu hình chung (common pattern) làm tăng rủi ro hệ thống (systemic risk) (Jain and Gupta, 1987; Pecchino,1998; Borio và cộng sự, 2001; Hyytinen và cộng sự, 2003). Ví dụ như Jain và Gupta (1987) và Barron và Valev (2000) sử dụng kiểm nghiệm nhân quả Granger và tìm thấy rằng các ngân hàng nhỏ ở Mỹ đã phỏng theo các hành vi cho vay của các ngân hàng lớn trong việc cho vay đối với các nước đang phát triển trong những năm 1980 và 1990.
Nakagawa (2008) tìm thấy mối quan hệ lãnh đạo về hành vi cho vay của các ngân hàng ở Nhật Bản, các ngân hàng ngân hàng địa phương phỏng theo hành vi cho vay của các ngân hàng lớn ở các thành phố đô thị và các ngân hàng địa phương trong cùng khu vực sẽ theo sau nhau về hành vi cho vay. Bài nghiên cứu này tập trung 4 vào vấn đề các hành vi theo nhóm này của các ngân hàng, qua đó các ngân hàng phản ứng đồng thời với sự thay đổi chế độ chung và phân bổ tài sản theo cùng một cách. Trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, càng có nhiều hành vi này xảy ra, nhiều khả năng là hệ thống ngân hàng sẽ thiếu khả năng phục hồi do đó sự ổn định tài chính sẽ có nguy cơ nhiều hơn. Trong những năm gần đây ở Việt Nam, hoạt động ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế.