đặt vấn đề, tiếp đó là giải thích minh họa nhưng phải chọn lọc, không quá tải. Bởi vậy sách phải đa dạng, đa chức năng, sinh động, linh hoạt, chú ý đưa yếu tố học tập cá thể hóa để học sinh tự tìm kiếm kiến thức”. Từ năm 1990 ở Mỹ việc rèn luyện “Kĩ năng đọc nghiên cứu” đã trở thành một trong những nhiệm vụ đào tạo cực kì quan trọng trong nhà trường phổ thông. Trong các kì nghỉ hè và công tác hỗ trợ học tập, người ta thường thành lập rất nhiều trung tâm “Kĩ năng đọc nghiên cứu”.
Ai đã từng tham gia các trung tâm ấy đều khẳng định đó là nơi học sinh được học tập nhiều cách thức đọc khác nhau. Đó là nền tảng để phát triển việc đọc có tính chất nghiên cứu thông qua việc đọc đúng, đọc làm nổi bật từng cấp độ ý nghĩa. Việt Nam Ở Việt Nam, từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh - người khởi xướng, tấm gương sáng về tinh thần và phương pháp tự học đã dạy: “về cách học, phải lấy tự học làm cốt”. 7 z Việc nghiên cứu lý luận về các phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực của học sinh nói chung, về vấn đề sử dụng sách giáo khoa nói riêng, đã được nhiều nhà khoa học sư phạm quan tâm nghiên cứu từ lâu, đặc biệt một số tác giả đã áp dụng lý luận đó vào nghiên cứu thực tiễn dạy học.
Trong nghị quyết của Bộ chính trị về cải cách Giáo dục (11/1/1979) đã viết: “Cần coi trọng việc bồi dưỡng hứng thú thói quen và phương pháp tự học cho học sinh, hướng dẫn học sinh biết cách nghiên cứu sách giáo khoa, thảo luận chuyên đề ghi chép tư liệu, tập làm thực nghiệm khoa học”. Trong cuốn “Lý luận dạy học Sinh học đại cương” - Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành; “Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy Sinh học” - Đinh Quang Báo, Đặng Thị Dạ Thủy, Nguyễn Thị Nghĩa, các tác giả đã nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận của phương pháp sử dụng sách giáo khoa trong dạy học Sinh học, và đã đưa ra hệ thống các kĩ năng đọc sách cần trang bị cho học sinh ở trường phổ thông. Các đề tài nghiên cứu khoa học của các tác giả: Đặng Dạ Thủy “Sử dụng công tác độc lập với sách giáo khoa để phát huy tính tích cực của học sinh trong khâu nghiên cứu tài liệu mới phần Sinh thái học lớp 11 cải cách giáo dục”, Hoàng Phồn Hưng với “Sử dụng câu hỏi để tổ chức học sinh làm việc với sách giáo khoa Sinh học 11 khi dạy các quy luật di truyền”, Phạm Thị Xuyến với “Hướng dẫn học sinh làm việc với sách giáo khoa trong dạy học văn học sử”, Nguyễn Thị Khiên với “Quy trình sử dụng câu hỏi tình huống có vấn đề giúp học sinh tự lực nghiên cứu sách giáo khoa trong dạy học phần tiến hóa Sinh học 12”. Các tác giả đã nghiên cứu xây dựng các câu hỏi, bài tập, bài toán nhận thức, bài tập tình huống để học sinh tự lực nghiên cứu sách giáo khoa thu nhận tri thức mới.
Hay tác giả Trần Văn Hiếu đã nghiên cứu đề tài khoa học và xây dựng quy trình làm việc độc lập với sách và tài liệu học tập cho sinh viên. 8 z Như vậy, qua các thực nghiệm sư phạm của các đề tài đó có thể ít nhiều cũng đã hình thành ở người đọc kĩ năng làm việc độc lập với sách. Tuy nhiên để trong bất cứ hoàn cảnh nào học sinh đều có thể vận dụng thành thục các kĩ năng sử dụng sách giáo khoa, đạt hiệu quả cao nhất trong việc chiếm lĩnh các tri thức của nhân loại, thì việc nghiên cứu và xây dựng các biện pháp rèn luyện học sinh kĩ năng sử dụng sách giáo khoa nhằm phát triển năng lực tự học và nắm vững kiến thức cho học sinh ngay ở bậc phổ thông là việc làm hết sức cần thiết. Khái niệm về kĩ năng Có rất nhiều ý kiến khác nhau về kĩ năng.
Khi thì kĩ năng được xem xét ở khía cạnh kĩ thuật của hành động, có khi kĩ năng được xem xét ở bình diện năng lực thực hiện hành động và kĩ năng còn được xem xét ở khả năng thực hiện đúng hành động nhất định. Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam - tác giả Nguyễn Lân (2000), kĩ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn. Theo Trần Bá Hoành - Tài liệu tham khảo “Đổi mới phương pháp đào tạo ở các trường CĐSP ngành sinh học” - Hà Nội 6/2005, kĩ năng là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn. Theo Từ điển tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê (2000), Khả năng được hiểu là “tính chất của người có những điều kiện tự nhiên hoặc do hoàn thiện, học tập hay kinh nghiệm tạo ra để làm được hoặc làm tốt việc gì”.
Như vậy khả năng là một khái niệm rộng. Khả năng không chỉ bao gồm những điều kiện cho phép cá nhân thực hiện được hành động (như kiến thức về kĩ năng, những kĩ năng đã được hình thành trước đấy làm nền tảng để hình thành các kĩ năng mới, những tố chất phù hợp với hành động), sự nhận thức về mục tiêu của hành động mà cá nhân đạt đến, mà còn bao hàm cả các mức độ thực hiện hành động - các mức độ của kĩ năng. 9 z Từ cách hiểu trên, chúng tôi rút ra hai nhận xét sau: - Kĩ năng là từ dùng để chỉ mức độ nhất định của khả năng thực hiện có hiệu quả những yêu cầu của một hoạt động nhất định. Trong một kĩ năng cụ thể lại bao gồm nhiều kĩ năng nhỏ hơn - các kĩ năng bộ phận.
- Kĩ năng có thể và hoàn toàn có thể hình thành nhờ tác động của dạy học. Nhờ học tập và rèn luyện mà cá nhân có được kĩ năng của một hoạt động nhất định. Điều này thực sự có ý nghĩa với việc hình thành và hoàn thiện kĩ năng sử dụng sách giáo khoa của học sinh. Từ những phân tích trên, theo chúng tôi kĩ năng có thể hiểu là khả năng thực hiện thành thạo, linh hoạt và có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với từng điều kiện cụ thể.
Trong chuyên đề: Tổ chức hoạt động học tập trong dạy học Sinh học ở trường THPT - trường ĐHSP (2006), PGS.TS Nguyễn Đức Thành có viết “Kĩ năng bao gồm những kĩ năng hoạt động chân tay và kĩ năng hoạt động trí tuệ, các loại kĩ năng có ở các mức từ thấp đến cao như: bắt chước làm theo, sáng tạo, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa. Mỗi loại kĩ năng được rèn luyện trong suốt một cuộc đời, nhưng trong quá trình học tập được rèn luyện thì kĩ năng ngày càng được hoàn thiện, càng trở nên chính xác và hiệu quả, hoạt động ngày càng được nâng cao. Như vậy, kiến thức được phát triển. kĩ năng cũng được phát triển theo, đó là kết quả của quá trình học tập, đó cũng là sản phẩm của quá trình dạy học.
Khái niệm về sách giáo khoa Sách giáo khoa là tài liệu quan trọng vì đó là nguồn kiến thức chủ yếu để học sinh học tập. Nhiều nhà khoa học lỗi lạc đã khẳng định rằng sách giáo khoa giữ một vai trò quan trọng trong việc giáo dục và nâng cao trình độ văn hóa cho mỗi con người trong việc tiếp thu những kho tàng giá trị tinh thần của xã hội. 10 z Ở nước ta hiện nay sách giáo khoa do Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức biên soạn và được thẩm định bởi Hội đồng quốc gia do nhiều nhà khoa học, nhiều nhà sư phạm có kinh nghiệm cũng như nhiều tổ chức khoa học, tổ chức giáo dục có uy tín. Trong quá trình dạy học, sách giáo khoa là nguồn cung cấp kiến thức cơ bản, là phương tiện hỗ trợ đắc lực, tài liệu chính thống đối với giáo viên và học sinh.
Đối với học sinh: - Sách giáo khoa là tài liệu học tập có nội dung kiến thức được trình bày một cách ngắn gọn, súc tích, rõ ràng nhất để học sinh dựa vào đó chiếm lĩnh mục tiêu chương trình môn học. Nói cách khác, sách giáo khoa là nguồn cung cấp kiến thức cơ bản cho học sinh trong dạy học. - Sách giáo khoa cung cấp thông tin bao gồm những sự vật hiện tượng cụ thể, những khái niệm, định luật, quy tắc, luận thuyết về tự nhiên và xã hội của môn học và khoa học tương ứng giúp học sinh tra cứu chính xác số liệu, định lý, định nghĩa, công thức hay các sự kiện trong quá trình tự học. - Sách giáo khoa phát triển những kĩ năng làm bài tập thực hành thí nghiệm, kĩ năng lao động.
Hình thành và phát triển ở học sinh phương pháp học tập nghiên cứu khoa học và thu thập, xử lý thông tin. - Sách giáo khoa giúp cho học sinh có thể tự kiểm tra, tự đánh giá được kết quả học tập của mình. Từ đó có biện pháp cụ thể để bổ sung kiến thức và kĩ năng cho bản thân. - Sách giáo khoa chỉ ra mục đích học, giúp học sinh hiểu sâu những tri thức lĩnh hội, bồi dưỡng kĩ năng tư duy logic, hứng thú học tập, yêu thích môn học và có thái độ đúng đắn với thế giới xung quanh cũng như với bản thân mình.
Đối với giáo viên: - Sách giáo khoa gợi ra phạm vi, mức độ kiến thức, kĩ năng mà người dạy cần hình thành ở học sinh. 11 z - Sách giáo khoa gợi cho giáo viên về phương pháp tổ chức hoạt động nhận thức phù hợp giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung học tập và phát huy khả năng tự học của học sinh. - Sách giáo khoa hỗ trợ rất đắc lực cho giáo viên trong hoạt động dạy trên lớp, giáo viên không thể giảng hết mọi điều mà đối với những vấn đề không quá khó thì giáo viên hướng dẫn HS để họ về nhà hoàn thành các nhiệm vụ học tập thông qua làm việc độc lập với sách giáo khoa. - Sách giáo khoa là công cụ hỗ trợ cho giáo viên trong quá trình soạn giáo án, tiến hành bài dạy, tổ chức điều khiển lớp.
Dưới sự tổ chức định hướng của giáo viên, có thể tổ chức hoạt động tự lực nghiên cứu sách giáo khoa của học sinh từ việc nghiên cứu sách giáo khoa để ghi nhớ tái hiện sự kiện tư liệu, đến việc nghiên cứu sách giáo khoa để giải quyết một nhiệm vụ nhận thức sáng tạo.