Quyền Được Xét Xử Công Bằng Của Người Bị Buộc Tội Trong Pháp Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích quyền được xét xử công bằng của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, đề xuất cải cách pháp lý.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ luật học

2022

200
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.2.1. Mục đích nghiên cứu

1.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Kết cấu của luận án

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Những đóng góp mới về khoa học của luận án

1.7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.7.1. Ý nghĩa về lý luận

1.7.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

3. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐƯỢC XÉT XỬ CÔNG BẰNG CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

4. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYỀN ĐƯỢC XÉT XỬ CÔNG BẰNG CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI

5. THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN ĐƯỢC XÉT XỬ CÔNG BẰNG CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

Tóm tắt

I. Quyền xét xử công bằng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

Quyền xét xử công bằng là một nguyên tắc cơ bản trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, được quy định tại Điều 25 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015. Nguyên tắc này đảm bảo rằng người bị buộc tội được xét xử kịp thời, công khai và công bằng. Quyền xét xử công bằng không chỉ là quyền cụ thể mà còn là quyền nền tảng, bao gồm các quyền như quyền bào chữa, quyền kháng cáo, và quyền được xét xử trước một Tòa án độc lập, vô tư. Điều này phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ quyền con ngườicông lý trong tố tụng.

1.1. Khái niệm và cơ sở pháp lý

Khái niệm xét xử công bằng được hiểu là việc đảm bảo rằng người bị buộc tội được xét xử một cách khách quan, không thiên vị, và tuân thủ các nguyên tắc tố tụng. Cơ sở pháp lý của quyền này được xây dựng dựa trên Hiến pháp năm 2013 và BLTTHS năm 2015. Hiến pháp khẳng định rằng mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được xét xử công bằng. BLTTHS cụ thể hóa các quyền này thông qua các quy định về quyền bào chữa, quyền kháng cáo, và quyền được xét xử công khai.

1.2. Nội dung quyền xét xử công bằng

Nội dung quyền xét xử công bằng bao gồm các quyền cụ thể như quyền được xét xử bởi Tòa án độc lập, vô tư, quyền bào chữa, quyền kháng cáo, và quyền được xét xử kịp thời. Người bị buộc tội cũng có quyền được suy đoán vô tội cho đến khi có bản án có hiệu lực pháp luật. Các quyền này được bảo đảm thông qua các quy định cụ thể trong BLTTHS và các văn bản hướng dẫn thi hành.

II. Thực tiễn thực hiện quyền xét xử công bằng

Thực tiễn thực hiện quyền xét xử công bằng tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Mặc dù pháp luật đã quy định rõ ràng, nhưng việc áp dụng trên thực tế chưa đạt được hiệu quả cao. Tình trạng án oan, sai vẫn tồn tại, và người bị buộc tội thường cảm thấy quyền của mình chưa được bảo đảm đầy đủ. Nguyên nhân chính là do sự thiếu hiểu biết về pháp luật, sự thiếu vô tư của một số Thẩm phán, và sự hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ pháp lý.

2.1. Thực trạng xét xử công bằng

Thực trạng xét xử công bằng tại Việt Nam cho thấy rằng mặc dù pháp luật đã quy định rõ ràng, nhưng việc áp dụng trên thực tế còn nhiều bất cập. Các vụ án oan, sai vẫn xảy ra, và người bị buộc tội thường gặp khó khăn trong việc thực hiện các quyền của mình. Sự thiếu vô tư của một số Thẩm phán và sự hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ pháp lý là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

2.2. Nguyên nhân và giải pháp

Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện quyền xét xử công bằng bao gồm sự thiếu hiểu biết về pháp luật, sự thiếu vô tư của một số Thẩm phán, và sự hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ pháp lý. Để khắc phục tình trạng này, cần có các giải pháp như tăng cường đào tạo cho Thẩm phán, nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân, và cải thiện các dịch vụ pháp lý để người bị buộc tội có thể tiếp cận dễ dàng hơn.

III. Giải pháp bảo đảm quyền xét xử công bằng

Để bảo đảm quyền xét xử công bằng cho người bị buộc tội, cần có các giải pháp cụ thể như hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán, và tăng cường các dịch vụ pháp lý. Việc hoàn thiện pháp luật cần tập trung vào việc cụ thể hóa các quy định về quyền bào chữa, quyền kháng cáo, và quyền được xét xử công khai. Nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán thông qua đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn. Tăng cường các dịch vụ pháp lý để người bị buộc tội có thể tiếp cận dễ dàng hơn.

3.1. Hoàn thiện pháp luật

Hoàn thiện pháp luật là một trong những giải pháp quan trọng để bảo đảm quyền xét xử công bằng. Cần cụ thể hóa các quy định về quyền bào chữa, quyền kháng cáo, và quyền được xét xử công khai trong BLTTHS. Đồng thời, cần ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành để đảm bảo việc áp dụng pháp luật được thống nhất và hiệu quả.

3.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán

Nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán thông qua đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn là một giải pháp quan trọng. Cần tăng cường các khóa đào tạo về nguyên tắc tố tụng, quyền con người, và công lý trong tố tụng để Thẩm phán có thể áp dụng pháp luật một cách khách quan và công bằng.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ quyền được xét xử công bằng của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 của luận án có cách tiếp cận quyền bào chữa của người bị buộc tội trên nền tảng của xét xử công bằng. Ngoài ra, bảo đảm quyền bào chữa theo hướng so sánh pháp luật và thực tiễn bảo đảm quyền bào chữa giữa các nước có hệ thống pháp luật khác biệt rất điển hình như Đức và Mỹ, so sánh với pháp luật và thực tiễn tại Việt Nam18. Kết quả nghiên cứu đó giúp việc triển khai nghiên cứu quyền được xét xử công bằng được thuận lợi hơn do có sự kế thừa và phát triển từ việc nghiên cứu bảo đảm từ các quyền cụ thể. Luận văn Thạc sỹ luật học: “Quyền xét xử công bằng và vấn đề bảo đảm quyền xét xử công bằng ở Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Kiều (2013), Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Luận văn giải thích lý do vì sao phải bảo đảm quyền được xét xử công bằng, đồng thời làm rõ thực trạng của việc bảo đảm quyền được xét xử công bằng ở Việt Nam, từ đó đề xuất biện pháp góp phần bảo đảm quyền được xét xử công bằng ở Việt Nam19. Luận văn này thuộc lĩnh vực “Pháp luật về quyền con người” nên nội dung của luận văn phân tích quyền được xét xử công bằng trong cả lĩnh vực hình sự và phi hình sự. Mặt khác, luận văn chưa giải thích được cơ sở để xác định nội hàm của quyền được xét xử công bằng. Luận văn Thạc sỹ luật học “Quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Liên Hương (2015), Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Luận văn đưa ra những giải thích về một số vấn đề lý luận về quyền được xét xử công bằng gồm: khái niệm quyền được xét xử công bằng trong TTHS, quyền được xét xử công bằng trong pháp luật quốc tế, cơ chế bảo đảm quyền được xét xử công bằng trong TTHS. Đồng thời tác giả phân tích thực trạng quyền được xét xử công bằng trong TTHS Việt Nam và đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền được xét xử công bằng trong TTHS20. Tuy nhiên, luận văn vẫn chưa làm rõ được cơ sở xác định nội dung của quyền được xét xử công bằng. 18 Lương Thị Mỹ Quỳnh (2011), Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội – So sánh giữa luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Mỹ, Luận án Tiến sĩ, Đại học Lund – Thụy Điển.

19 Đỗ Thị Kiều (2013), Quyền xét xử công bằng và vấn đề bảo đảm quyền xét xử công bằng ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội. 20 Nguyễn Thị Liên Hương (2015), Quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội. 15 Có thể nói, hai luận văn thạc sỹ trên là những công trình nghiên cứu tiên phong và có tính chuyên sâu về quyền được xét xử công bằng. Biết rằng có nhiều vấn đề còn đang bỏ ngỏ hoặc gây ra tranh luận nhưng những đóng góp của các tác giả có giá trị gợi mở hướng nghiên cứu mới về một loại quyền tố tụng cơ bản, phổ biến của người bị buộc tội, đó là quyền được xét xử công bằng.

Thứ hai, các bài viết được công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, bài viết trong kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế và trong nước có liên quan đến xét xử công bằng và quyền được xét xử công bằng của người bị buộc tội. - Bài viết liên quan đến nguyên tắc xét xử công bằng trong TTHS: Bài viết “Những chuẩn mực quốc tế về quyền của bị cáo được xét xử công bằng, công khai bởi một tòa án độc lập và BLTTHS năm 2003 của Việt Nam. Một số kiến nghị”, của tác giả PGS.TS Nguyễn Thái Phúc trong Tài liệu Hội thảo: Các công ước quốc tế về quyền con người và những vấn đề đặt ra đối với việc sửa đổi, bổ sung BLTTHS Việt Nam (Học viện Tư pháp, Nha Trang, 8/2015). Bài viết tiếp cận xét xử công bằng ở góc độ nguyên tắc cơ bản của TTHS.

Tác giả Nguyễn Thái Phúc thừa nhận nguyên tắc này có nội dung rất rộng, trong đó bao gồm các yếu tố: trách nhiệm của Chính phủ, Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền trong việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật; quyền con người phải được bảo đảm và không có sự phân biệt; tính độc lập của Tòa án và vô tư của thẩm phán; bất kỳ ai cũng có quyền được xét xử bởi một Tòa án độc lập, có thẩm quyền và vô tư trước một phiên tòa công khai và công bằng theo quy định của luật; quyền được bào chữa và nhờ người khác bào chữa cũng như được sự hỗ trợ miễn phí nếu người bị buộc tội không có khả năng tài chính và lợi ích công lý đòi hỏi; quyền được suy đoán vô tội; quyền được bình đẳng giữa các bên trước Tòa án… Mặc dù được tiếp cận ở góc độ nguyên tắc xét xử công bằng nhưng nó đóng vai trò như những định hướng để xác định các vấn đề về quyền được xét xử công bằng của người bị buộc tội theo cách tiếp cận quyền của người bị buộc tội. Đây cũng là tài liệu có giá trị gợi mở ý tưởng phát triển các nội dung của luận án sau này. - Nhóm các bài viết liên quan đến suy đoán vô tội: Bài viết: “Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự: Khái quát từ góc độ lịch sử nhân loại” của tác giả Nguyễn Thành Long (Tạp chí Tòa án nhân dân số 7, 2009); “Xu hướng tăng cường bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự Việt 16 Nam thông qua nguyên tắc suy đoán vô tội” của PGS.TS Phạm Văn Tỉnh (Tạp chí Kiểm sát, số 9, 2010). Mới nhất, có các bài viết của các tác giả trong và ngoài nước trong Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Nguyên tắc suy đoán vô tội”, Đại học Melbourne và Khoa luật ĐH Quốc gia Hà Nội tổ chức 24/7/2020, gồm: GS Nguyễn Xuân Thảo (2020) (“Chủ đề: Suy đoán vô tội trong pháp luật Hoa Kỳ”); Prof.

Christoph Gröpl (“Giả định vô tội trong khuôn khổ pháp lý của Đức”); GS. TSKH Đào Trí Úc (“Suy đoán vô tội – Nguyên tắc Hiến định quan trọng trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015”); Aurélie Bergeaud-Wetterwald (“Ý nghĩa và việc áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật Cộng hòa Pháp”). Tư tưởng của các tác giả trong các bài viết này góp phần nhận diện cơ sở và nội hàm của nguyên tắc suy đoán vô tội. Trong đó có suy đoán có lợi, nghĩa vụ chứng minh của bên buộc tội, có quyền im lặng và ngưỡng (giới hạn) chứng minh “vượt qua sự nghi ngờ hợp lý” như những nội dung cấu thành của nguyên tắc này.

Đây cũng là giá trị được kế thừa trong luận án để hoàn thiện các quy định nhằm bảo đảm quyền được xét xử công bằng của người bị buộc tội. - Nhóm các bài viết và sách tham khảo về độc lập tư pháp, độc lập Tòa án: Đây là những tài liệu tiếp cận độc lập tư pháp, độc lập Tòa án chủ yếu ở góc độ tổ chức bộ máy Tòa án, có ảnh hưởng đến bảo đảm quyền được xét xử công bằng của người bị buộc tội. Nếu nhận thức quyền được xét xử công bằng của người bị buộc tội ở góc độ liên ngành thì những tài liệu này có giá trị tham khảo nhất định. Bài viết của tác giả Jean – Philippe Rivaud (2012) “Mô hình tố tụng hình sự của Cộng hòa Pháp” (trích từ cuốn sách Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới (TS Tô Văn Hòa chủ biên), NXB Hồng Đức, có đề cập đến mô hình Tòa án của Pháp được tổ chức không phụ thuộc đơn vị hành chính lãnh thổ (trang 467) cũng có giá trị tham khảo cho kiến nghị về quyền được xét xử công bằng của người bị buộc tội.

Các bài viết về chủ đề độc lập tư pháp, độc lập của Tòa án, độc lập xét xử phục vụ nghiên cứu về chiến lược xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, trong đó có chiến lược cải cách tư pháp, có các tác giả: PGS.TS Trần Văn Độ (“Đổi mới tổ chức Tòa án nhân dân bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 15/2021), tác giả PGS.TS Nguyễn Tất Viễn (“Tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử không phụ thuộc vào đơn vị hành chính”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 15/2021), tác giả 17 TS Nguyễn Mai Bộ (“Đổi mới tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân đáp ứng xây dựng nhà nước pháp quyền, Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới tổ chức và hoạt động các cơ quan tư pháp hình sự Việt Nam từ năm 2002 đến nay và những vấn đề tiếp tục đặt ra, Đại học quốc gia Hà Nội, 15/10/2021). Những bài viết này tiếp cận vấn đề chủ yếu ở góc độ tổ chức bộ máy, đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện tổ chức bộ máy Tòa án bảo đảm độc lập tư pháp. Đây cũng là kết quả nghiên cứu được kế thừa nếu nhìn nhận ở góc độ liên ngành về quyền của người bị buộc tội được xét xử công bằng bởi Tòa án độc lập và vô tư. Sách tham khảo “Một số nghiên cứu hiện đại về Tòa án” của PGS.TS Đỗ Minh Khôi (chủ biên) và tập thể tác giả (NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2021) có một số nội dung liên quan đến điều kiện độc lập của Tòa án như nhiệm kỳ Thẩm phán, đào tạo Thẩm phán, chế độ đối với Thẩm phán, quyền miễn trừ của Thẩm phán.

Những kết quả nghiên cứu trong cuốn sách này được tham khảo để nhận thức về xét xử độc lập của Tòa án. Ngoài ra, các sách và giáo trình nghiên cứu cơ bản về quyền con người và luật TTHS như:“Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người”21; sách tham khảo “Quyền con người (Tập hợp những bình luận khuyến nghị chung của Ủy ban Công ước Liên hợp quốc)”22; “Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam” của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh23; sách chuyên khảo “Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015”24. Những nguồn tài liệu này cung cấp những khái niệm chung, cơ bản về TTHS và quyền con người như: xét xử độc lập; xét xử công khai; xét xử kịp thời; người bị buộc tội; suy đoán vô tội; quyền bào chữa; tranh tụng trong TTHS; thời hạn tạm giam; hoãn phiên tòa; trả hồ sơ để điều tra bổ sung… 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quyền Xét Xử Công Bằng Cho Người Bị Buộc Tội Trong Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyền lợi của người bị buộc tội trong quá trình tố tụng hình sự, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm công bằng và minh bạch trong xét xử. Tài liệu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật liên quan mà còn chỉ ra những lợi ích của việc thực hiện quyền xét xử công bằng, từ đó nâng cao nhận thức về quyền lợi của cá nhân trong hệ thống tư pháp.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ luật học thủ tục xét xử vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi, nơi đề cập đến quy trình xét xử đặc biệt cho đối tượng trẻ tuổi, hay Luận văn thạc sĩ luật học kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam và thực tiễn tại thị xã sơn tây thành phố hà nội, giúp bạn hiểu rõ hơn về việc tuân thủ pháp luật trong các biện pháp ngăn chặn. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân từ thực tiễn tỉnh lạng sơn sẽ cung cấp cái nhìn thực tiễn về việc áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hình sự. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quyền xét xử và thực tiễn pháp lý tại Việt Nam.