Chương I đã ghi rõ: “Báo chí là diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân”. Như vậy là tự do báo chí và tự do ngôn luận có phần đồng nhất. Đó là quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, là quyền được tự do tìm kiếm thông tin, chia sẻ thông tin hoặc ý kiến của mình trên báo chí. Trước tình hình báo mạng điện tử phát triển như hiện nay thì đang đặt ra vấn đề rất thời sự, rất cấp thiết, đó là hiểu thế nào và làm sao để thực hiện quyền tự do ngôn luận phù hợp với mọi “diễn đàn cộng đồng không biên giới”, cho phép mọi người dễ dàng và nhanh chóng thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí.
Với tính năng “siêu văn bản”, cập nhật thông tin tức thời, báo mạng điện tử đã trở thành phương tiện thông tin thời sự nhanh nhất, ngày càng thỏa mãn nhu cầu nắm bắt thông tin của công chúng. Ở đó người ta có thể tìm kiếm được những thông tin cần quan tâm cho cuộc sống riêng, hoặc nắm bắt diễn đàn của thời cuộc nhằm hòa mình 16 với xã hội và thể hiện quan điểm của mình trước những thông tin đó. Với tính năng tương tác nhạy bén, cho phép báo mạng điện tử tiếp nhận và đăng tải nhanh nhất ý kiến, quan điểm mọi người về những diễn biến tức thời diễn ra trong cuộc sống. Mỗi thông tin, mỗi ý kiến, mỗi bình luận dù chỉ ở một số ít người được đưa lên báo mạng điện tử đều có thể thu hút rất nhiều người khác chia sẻ, phản hồi, tạo thành một liên kết sức mạnh của cộng đồng, từ đó tạo ra dư luận xã hội đa chiều khó lường, nên cần phải hết sức cảnh tỉnh.
Trước sự tương tác đa chiều thì ngôn luận có trách nhiệm của mỗi công dân trên báo mạng điện tử là tiếng nói quan trọng nhằm đạt tới sự đồng thuận xã hội cũng như góp phần phát hiện tình hình, giúp cho sự điều chỉnh các chủ trương, chính sách và kinh tế, văn hóa - xã hội của các cấp có thẩm quyền. Là một môi trường mở, không có giới hạn về không gian và thời gian nên mỗi dòng bình luận, mỗi ý kiến nêu ra trên báo mạng điện tử cả thế giới đều biết và do đó hiệu quả tích cực hoặc tiêu cực đều có thể xuất hiện đồng thời và tác động tức thời. Khi “ngôn luận” đã đăng lên báo mạng điện tử thì quyền tự do ngôn luận không còn là hoạt động riêng của cá nhân, tổ chức mà đó đã là hoạt động báo chí truyền thông. Vì thế, mỗi cá nhân, mỗi tổ chức thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo mạng điện tử không được vượt quá, không được nằm ngoài giới hạn mà luật pháp cho phép trong việc cung cấp 17 thông tin.
Như là tùy tiện, lừa mị và chỉ dẫn sai lạc trong quảng cáo; kích động tôn giáo, nói xấu chế độ, bôi nhọ người khác, kích động bạo lực và tuyên truyền phản động… Khi đó, quyền tự do ngôn luận trên báo mạng điện tử đã bị lợi dụng để phục vụ cho lợi ích của một hay một nhóm người, thậm chí trở thành phương tiện để những kẻ chống phá lợi dụng bôi nhọ, nói xấu, gây chia rẽ làm nguy hại đến sự ổn định chính trị. Cho nên, cộng đồng mạng khi thấy có dấu hiệu bất thường cần hết sức cảnh giác và kịp thời phản bác. Như là trước dịch bệnh Covid-19, nhiều thông tin sai lệch đã đăng tải trên mạng. Có thể nói cho đến nay, nước ta làm rất tốt việc phòng dịch và điều trị nhưng không ít thông tin tuyên truyền sai lệch, xuyên tạc.
Luật Báo chí 2016 Điều 11. Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân 1. Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới. Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác. 18 => Phân tích: Nội hàm của quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân đã được thể hiện trong các Điều 10 và Điều 11 Luật Báo chí năm 2016. Điều 10 giải thích cụ thể công dân có các quyền tự do báo chí sau: 1. Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2.
Cung cấp thông tin cho báo chí; 3. Phản hồi thông tin trên báo chí; 4. Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6.
In, phát hành báo in. Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 cũng quy định cụ thể quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Theo đó, công dân có quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác. Trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân 1.
Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi 19 ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng.
Luật Tiếp cận thông tin 2016 Điều 3. Nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin 1. Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ.
Việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải do luật định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc của người khác. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin.
20 => Phân tích: - Một là: Mọi người đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền TCTT. Với quy định này, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã khẳng định tất cả mọi người bao gồm cả công dân và người nước ngoài cư trú trên đất nước Việt Nam đều được tự do tìm kiếm thông tin và phổ biến thông tin hay chính là thực hiện quyền TCTT. - Hai là: Thông tin được cung cấp phải chính xác và đẩy đủ. Điều này đòi hỏi các chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin phải bảo đảm tính đầy đủ, chính xác của các thông tin đến với người dân.
Tránh tình trạng thông tin mập mờ, không rõ ràng, không đầy đủ, dẫn đến hiện tượng hiểu sai và không đúng bản chất của thông tin. - Ba là: Việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Nội dung này của nguyên tắc có thể hiểu là quy định về trách nhiệm đối với các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin đối với công dân. Theo đó, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp các thông tin do mình tạo ra, trừ những trường hợp thông tin thuộc loại công dân không được tiếp cận như: Thông tin thuộc bí mật nhà nước, bao gồm những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác theo quy định của luật.
Khi thông tin thuộc bí mật nhà nước được giải mật thì công dân được 21 tiếp cận theo quy định của Luật này; hoặc trong trường hợp thông tin được tiếp cận có điều kiện tại Điều 7 của Luật TCTT năm 2016 thì phải đáp ứng các điều kiện mà luật quy định. Việc cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước phải đảm bảo tính kịp thời, tránh hiện tượng trì hoãn thông tin gây khó khăn cho người dân. Những hiện tượng trì hoãn thông tin đến với người dân có thể sẽ bị coi là hành vi vi phạm pháp luật về TCTT và phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. - Bốn là: Việc hạn chế quyền Tiếp cận thông tin phải do luật định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.
Như vậy, về nguyên tắc, việc hạn chế quyền TCTT chỉ đặt ra trong những trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng và quan trọng là phải được thể hiện trong các quy định của pháp luật. Có thể thấy, giữa bảo vệ bí mật nhà nước với bảo đảm quyền TCTT của công dân có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và có thể xung đột với nhau. Bảo vệ bí mật nhà nước luôn luôn phải đáp ứng đồng thời các yêu cầu của quản lý nhà nước về bảo vệ bí mật nhà nước nhằm bảo đảm tuyệt đối an toàn cho bí mật nhà nước đồng thời cũng phải công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền tự do, dân chủ, quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền TCTT.