Chương 1 KHÁI NIỆM THÔNG TIN VÀ NỘI DUNG CỦA QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN 1. KHÁI NIỆM THÔNG TIN 1. Khái niệm thông tin theo quy định của các nƣớc trên thế giới - Về thuật ngữ thông tin, khái niệm tiếp cận thông tin Luật của các nước sử dụng thuật ngữ khác nhau để ghi nhận quyền tiếp cận thông tin công của cá nhân (right to access public information). Một số nước sử dụng quyền được tiếp cận các hồ sơ, tài liệu chính thức hoặc các files, dữ liệu văn bản, như Anbani, Bỉ, Colombo, Đan Mạch, Pháp, Hung Ga ri, Nhật Bản.
Một số nước khác sử dụng quyền được thông tin (right to information), như Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ… Những quốc gia khác ban hành luật tự do thông tin, như Vương Quốc Anh, Israel, Iceland, Latvia, Nauy, Mỹ, Australia, Newzeland [67]… Với tên gọi khác nhau nhưng trên thực tế, không có sự khác nhau lắm về nội dung và phạm vi điều chỉnh của luật. Hầu hết luật các nước đều xác định quyền được thông tin với nội hàm rộng bao gồm quyền của cá nhân, công nhân được tiếp cận tất cả các thông tin đang được lưu giữ bởi cơ quan công quyền (cơ quan thuộc nhánh quyền hành pháp). Thông tin lưu giữ bởi cơ quan công quyền, gọi là "thông tin công". Một số nước như Thụy Điển, Anbani, Kosovo, Newzeland.
sử dụng thuật ngữ tiếp cận "tài liệu chính thức" không bao gồm các tài liệu đang trong quá trình chuẩn bị hoặc dự thảo không được sử dụng để ban hành quyết định cuối cùng. Nhìn chung, quyền tiếp cận thông tin chỉ áp dụng đối với thông tin có trong hồ sơ chính thức. Một khoảng trống mà luật các nước không mấy quan tâm điều chỉnh là các thông tin cụ thể khác, thông tin qua truyền miệng (như thông tin được thảo luận, kết luận trong các cuộc họp) có thể được sử dụng để ban hành quyết định. 5 z Chỉ một số nước đưa ra một định nghĩa chính thức hoặc giải thích thuật ngữ quyền tiếp cận thông tin/quyền được thông tin.
Chẳng hạn Luật về quyền được thông tin của Ấn độ giải thích: Quyền được thông tin có nghĩa là quyền được tiếp cận các thông tin theo quy định tại Luật này, mà đang được quản lý hoặc kiểm soát bởi bất kỳ nhà chức trách công cộng nào. Quyền này bao gồm các quyền được: (a) Xem các tác phẩm, tư liệu, hồ sơ; (b) Ghi chép, trích dẫn, sao chụp các tư liệu hoặc hồ sơ; (c) Có các bản sao có chứng thực các tài liệu; (d) Thu thập thông tin dưới các dạng đĩa mềm, thẻ nhớ, băng ghi âm, băng hình hoặc bất kỳ dạng thiết bị điện tử nào khác hoặc thông qua các việc in ra các tài liệu ở những nơi lưu trữ tư liệu bằng máy vi tính hoặc bằng các thiết bị khác [67]. - Về lịch sử phát triển khái niệm quyền tiếp cận thông tin Quyền tiếp cận thông tin hay quyền được thông tin là quyền cơ bản của con người. Khái niệm này đã xuất hiện trong thời kỳ Ánh Sáng vào thế kỷ 18.
Chính trong đạo Luật về Tự do báo chí của Thụy Điển được ban hành vào năm 1766 đã thiết lập nguyên tắc các hồ sơ của Chính phủ không được thiếu vắng, mà sẽ phải công khai cho công chúng và trao cho người dân quyền được yêu cầu tiếp cận các văn bản của các cơ quan chính phủ. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789 cũng xác lập nguyên tắc: Việc tự do trao đổi về tư tưởng và ý kiến là một trong những quyền quý giá nhất của con người; mọi công dân có thể phát ngôn, viết hay tiến hành in ấn một cách tự do, nhưng phải chịu trách nhiệm về sự lạm dụng quyền tự do đó (Điều 11). Mọi công dân đều có quyền trực tiếp hoặc thông qua các đại diện của mình được xem xét cần thiết của thuế công cộng, được tự do thỏa thuận đóng góp, được theo dõi việc sử dụng và được ấn 6 z định chỉ tiêu thuế, cách thức và thời hạn đóng góp; xã hội có quyền bắt mọi công chức phải báo cáo về công việc quản lý của họ [26]. Các nguyên tắc này, một cách tương tự, cũng được quy định trong Tuyên ngôn của Hà Lan năm 1795.
Như vậy, khái niệm tiếp cận thông tin đã được quy định khá sớm, và đó là một trong những quyền cơ bản của con người, nếu so sánh với sự phát triển các quyền và tự do khác của con người. Tuy nhiên, thời điểm đó, quyền tiếp cận thông tin công mới chỉ được quy định trong phạm vi một vài quốc gia. Quyền tiếp cận thông tin chỉ trở thành mối quan tâm trên phạm vi quốc tế, sau khi Liên hợp quốc ra đời. Trong phiên họp thứ nhất, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết số 59(1), nơi quy định: "Tự do thông tin là quyền con người cơ bản và… nền tảng của tất cả các tự do khác…".
Tiếp đó, bản Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người được thông qua vào năm 1948 đã liệt kê một loạt các quyền và tự do cơ bản của cá nhân, trong đó có quyền tiếp cận thông tin và trách nhiệm của các chính phủ trong việc tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền này. Quyền tiếp cận thông tin tiếp tục được quy định trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 và trong một số công ước quốc tế khác như Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, Công ước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc ra quyết định và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề về môi trường năm 1998, Công ước quốc tế về chống tham nhũng năm 2003…[68]. Ở cấp độ khu vực và quốc gia, quyền tiếp cận thông tin được quy định trong Công ước nhân quyền Châu Âu (ECHR), Công ước nhân quyền Châu Mỹ (ACHR), và trong Chương trình Hành động Chống tham nhũng dành cho khu vực Châu Á - Thái bình dương cũng đã quy định rõ về tiếp cận thông tin bảo đảm rằng công chúng và các phương tiện truyền thông được tự do tiếp nhận và phổ biến thông tin về các vấn đề tham nhũng một cách phù hợp với pháp luật trong nước [67]… Hiện nay, các nước trên thế giới dù khác nhau về 7 z thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế hay sự khác biệt về văn hóa trong pháp luật quốc gia đều có quy định về quyền tiếp cận thông tin của công dân. Tính đến tháng 9/2007 đã có khoảng 70 quốc gia ban hành luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin công.
Ví dụ: Canađa ban hành năm 1983, Hunggari năm 1992, Vương Quốc Anh năm 2000, Nam Phi năm 2000, Mỹ năm 1966, Liên bang Nga năm 2006. Ở Châu Á, một số nước cũng đã ban hành luật về tiếp cận thông tin như Thái Lan năm 1997, Hàn Quốc năm 1998, Nhật Bản năm 2004, Ấn Độ năm 2005, Trung Quốc năm 2007… - Các khía cạnh khác nhau của nội hàm khái niệm quyền tiếp cận thông tin + Tự do thông tin hay tiếp cận thông tin, chính là mọi cá nhân, công dân được quyền tiếp cận hồ sơ, tài liệu của cơ quan nhà nước, hoặc các tổ chức có chức năng thực hiện nhiệm vụ công (cơ quan công quyền). Điều này phản ánh nguyên tắc cơ quan công quyền không được lưu giữ thông tin thay mặt chính họ, mà là thay mặt, hay xuất phát từ việc bảo đảm lợi ích của tất cả các thành viên trong xã hội. Do đó, cá nhân, công dân có quyền được tiếp cận thông tin công, trừ khi những thông tin thuộc giới hạn không được phép tiếp cận.
Quyền tiếp cận thông tin của cá nhân còn có ý nghĩa thứ hai, là quyền chủ động được yêu cầu, và nghĩa vụ của cơ quan nhà nước là phải công bố, phổ biến rộng rãi các loại thông tin vì lợi ích của cộng đồng. + Quyền tiếp cận thông tin, bắt đầu xuất hiện đó là quyền được biết sự thật. Nó phản ánh nghĩa vụ của nhà nước bảo đảm cho mọi công dân biết sự thật về các vấn đề khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, đến quản lý tư pháp, quản lý hành chính của đất nước; về các vấn đề liên quan đến quốc kế, dân sinh nói chung; về bảo vệ quyền và các tự do của mọi cá nhân, công dân. Các thông tin này được xác định đó là thông tin công, được cơ quan công quyền lưu giữ thay mặt nhân dân, do đó có trách nhiệm bảo quản, và tạo điều kiện thuận lợi để cá nhân, công dân được quyền tiếp cận hồ sơ chứa đựng các thông tin này.
Phạm vi sử dụng thông tin theo quy định của một số nƣớc trên thế giới Phạm vi của quyền tiếp cận thông tin được quy định trong luật tiếp cận thông tin các nước là không hoàn toàn giống nhau. Nhìn chung, phạm vi của quyền tiếp cận thông tin được quy định trong luật theo hai cách chính sau đây: - Cách thứ nhất, luật liệt kê một loạt các loại thông tin cơ quan công quyền có trách nhiệm phải công bố trong thời hạn luật định và sau đó là những thông tin miễn trừ tiết lộ. Những nước theo cách này, như Ấn Độ, Liên bang Nga, Trung Quốc…. Luật về quyền tiếp cận thông tin của Ấn Độ (Điều 4) quy định: Các nhà chức trách công cộng phải lưu giữ hồ sơ và có trách nhiệm công bố trong vòng 120 ngày đối với những loại thông tin từ điểm (i) đến điểm (xvii).
Những thông tin này, chủ yếu là liên quan tới tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và nghĩa vụ, thủ tục ra quyết định, quy tắc nội bộ, danh bạ điện thoại, ngân sách…các chính sách, quyết định quan trọng có ảnh hưởng tới công chúng…[67]. Bên cạnh đó, Luật quy định những thông tin mà nhà chức trách không có nghĩa vụ cung cấp (Điều 8). Đó là các thông tin mà việc tiết lộ có thể gây những tác động tiêu cực tới chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Ấn Độ, cho an ninh chiến lược hoặc các lợi ích kinh tế, khoa học, quan hệ với nhà nước khác, hoặc khuyến khích tội phạm; thông tin về hoạt động của tòa án; thông tin mà nếu tiết lộ có thể ảnh hưởng đến nghị viện, cơ quan lập pháp các bang; thông tin về bí quyết thương mại, kinh doanh… Tương tự Ấn Độ, Luật về Thông tin, công nghệ thông tin và bảo vệ thông tin của Liên bang Nga cũng xác định các loại thông tin không được hạn chế tiếp cận.