Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đất đai là tài nguyên quốc gia đặc biệt, có giá trị kinh tế lớn nhưng hữu hạn, đóng vai trò then chốt trong đời sống xã hội. Tại Việt Nam, do đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, pháp luật không thiết lập giao dịch mua bán quyền sở hữu đất mà điều chỉnh sự dịch chuyển quyền sử dụng đất (QSDĐ) thông qua các hợp đồng dân sự. Thực tiễn quản lý thị trường bất động sản cho thấy các giao dịch về QSDĐ luôn tiềm ẩn nguy cơ vi phạm pháp luật, trục lợi hoặc phát sinh tranh chấp phức tạp, ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên và công tác quản lý của Nhà nước.

Mặc dù hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng về QSDĐ đã liên tục được sửa đổi, bổ sung, song giữa Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 vẫn tồn tại những điểm chồng chéo, xung đột và thiếu thống nhất. Trong bối cảnh Luật Đất đai năm 2013 đang trong quá trình tổng kết để sửa đổi, việc nghiên cứu các quy định hiện hành và đánh giá thực tiễn xét xử tranh chấp trở nên cấp thiết.

Khóa luận xác định mục tiêu tổng quát là phân tích, đánh giá toàn diện các quy định của BLDS năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 điều chỉnh hợp đồng về QSDĐ, kết hợp nghiên cứu thực tiễn thi hành và xét xử của Tòa án để phát hiện bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện. Mục tiêu này được cụ thể hóa thành năm nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Xây dựng khái niệm hợp đồng về QSDĐ trên cơ sở phân tích đặc điểm, so sánh khái niệm này trong BLDS năm 2015 với danh mục giao dịch tại Luật Đất đai năm 2013;
  2. Xác định khái niệm và cơ cấu của chế định pháp luật hợp đồng về QSDĐ dựa trên đối tượng và phương pháp điều chỉnh;
  3. Phân tích thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về chủ thể, đối tượng, hình thức, nội dung và hiệu lực của hợp đồng về QSDĐ;
  4. Đánh giá kết quả áp dụng pháp luật trên thực tế từ số liệu quản lý nhà nước; đồng thời thông qua các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp để làm rõ những khó khăn, vướng mắc của Tòa án;
  5. Đề xuất các định hướng và kiến nghị lập pháp nhằm hoàn thiện các quy định về chủ thể, đối tượng, hình thức, nội dung, hiệu lực của hợp đồng và nâng cao hiệu quả thi hành.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các hợp đồng về QSDĐ (gồm nhóm được Luật Đất đai năm 2013 ghi nhận như chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, góp vốn, thế chấp, cho thuê; và nhóm thực tế phát sinh nhưng luật chưa ghi nhận như mượn, cầm cố QSDĐ); các quy phạm pháp luật trong BLDS năm 2015, Luật Đất đai năm 2013 (có so sánh đối chiếu với BLDS năm 2005); cùng các bản án, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án về tranh chấp hiệu lực hợp đồng.

Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở góc độ tiếp cận hợp đồng về QSDĐ như một chế định pháp luật độc lập trong BLDS năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013, có tham chiếu chọn lọc một số quy định liên quan thuộc Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nội dung khảo sát tập trung vào năm yếu tố: chủ thể, đối tượng, hình thức, nội dung và điều kiện/thời điểm phát sinh hiệu lực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống cơ sở lý luận về quyền tài sản, sở hữu toàn dân về đất đai và lý luận hợp đồng dân sự trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm nền tảng gồm: BLDS năm 2015 (các Điều 117, 189, 310, 408, 500, 502, 503), Luật Đất đai năm 2013 (các Điều 5, 12, 126, 167, 168, 169, 173, 174, 179, 181, 182, 186, 188, 191), BLDS năm 2005, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Nghị định 43/2014/NĐ-CP, Nghị định 02/2022/NĐ-CP và Nghị quyết 02/2016/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Tác giả kế thừa và đối thoại học thuật với các công trình nghiên cứu trước đó, tiêu biểu như:

  • Sách chuyên khảo "Giao dịch dân sự về bất động sản" (Tập 1, Tập 2) do PGS.TS. Đỗ Văn Đại chủ biên (2021);
  • Sách chuyên khảo "Hiệu lực giao dịch quyền sử dụng đất" do Chu Thị Khánh Vân chủ biên (2020);
  • Kỷ yếu hội thảo khoa học "Hợp đồng về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam" của Trường Đại học Luật Hà Nội (2021);
  • Luận án tiến sĩ "Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ở theo pháp luật Việt Nam hiện hành" của Nguyễn Thủy Trang (2017);
  • Các bài viết chuyên khảo của ThS. Bùi Ái Giên (2022) về cầm cố QSDĐ, Nguyễn Phúc Thiện (2019) về tư cách hộ gia đình, và ThS. Nguyễn Khánh Vân (2023) về thời điểm có hiệu lực của giao dịch chuyển quyền.

Khóa luận sử dụng năm phương pháp nghiên cứu pháp lý:

  • Phương pháp phân tích và so sánh: làm rõ các quan điểm lý luận, cấu trúc chế định hợp đồng, đối chiếu sự bất tương thích giữa quy định của BLDS năm 2015 với Luật Đất đai năm 2013;
  • Phương pháp thống kê: phân loại, xử lý các dữ liệu giao dịch bất động sản trên toàn quốc;
  • Phương pháp tổng hợp và đánh giá thực tiễn: phân tích các lập luận xét xử trong bản án sơ thẩm, phúc thẩm và quyết định giám đốc thẩm để chỉ ra vướng mắc trong áp dụng án lệ và quy phạm pháp luật.

Nguồn dữ liệu thực nghiệm phục vụ đánh giá gồm Báo cáo đánh giá tình hình thi hành Luật Đất đai năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (năm 2022), Án lệ số 36/2020/AL, cùng các bản án và quyết định giám đốc thẩm do Tòa án nhân dân các cấp ban hành từ năm 2020 đến năm 2022.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng quyền sử dụng đất và pháp luật về hợp đồng quyền sử dụng đất

Chương 1 hệ thống hóa khái niệm QSDĐ theo Điều 189 BLDS năm 2015 và chỉ ra rằng pháp luật hiện hành chưa có một điều luật định nghĩa trực tiếp QSDĐ. Tác giả đồng tình quan điểm xác định QSDĐ là quyền tài sản đặc thù phát sinh trên cơ sở quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện, có năm đặc điểm:

  1. Phát sinh dựa trên quyền sở hữu toàn dân về đất đai;
  2. Là quyền tài sản đặc biệt, gắn liền với quy hoạch, mục đích và thời hạn sử dụng luật định;
  3. Bị giới hạn nghiêm ngặt về nhóm chủ thể tham gia (Điều 5 Luật Đất đai năm 2013);
  4. Quyền và nghĩa vụ của các bên bị chi phối trực tiếp bởi các quy định quản lý hành chính nhà nước;
  5. Quy chế tài sản đa dạng tùy thuộc vào hình thức giao đất không thu tiền, giao đất có thu tiền, thuê đất trả tiền hàng năm hoặc trả một lần.

Về khái niệm hợp đồng, tác giả đối chiếu Điều 500 BLDS năm 2015 và chứng minh khái niệm "hợp đồng về QSDĐ" trong bộ luật này bị bó hẹp khi chỉ gắn với hành vi của "người sử dụng đất". Thực tế có trường hợp chủ thể không phải người sử dụng đất theo Điều 5 nhưng theo Khoản 3 Điều 186 Luật Đất đai năm 2013 vẫn có quyền chuyển nhượng, tặng cho di sản thừa kế (người nước ngoài nhận thừa kế đất đai tại Việt Nam). Tác giả phân tích tính chất của hai loại hợp đồng phổ biến trong đời sống nhưng chưa được Luật Đất đai năm 2013 ghi nhận:

  • Hợp đồng cầm cố QSDĐ: BLDS năm 2015 cho phép cầm cố bất động sản (Điều 310), nhưng Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 không liệt kê quyền cầm cố, dẫn đến việc Tòa án thường tuyên vô hiệu vì vi phạm điều cấm (Khoản 4 Điều 12 Luật Đất đai năm 2013), mặc dù điều luật đất đai không có từ "chỉ" mang tính chất loại trừ tuyệt đối;
  • Hợp đồng mượn QSDĐ: Luật Đất đai năm 2013 không đề cập, nhưng Luật Nhà ở năm 2014 gián tiếp thừa nhận việc mượn đất để xây nhà (Khoản 3 Điều 42 và Khoản 1 Điều 44).

Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa: "Hợp đồng về QSDĐ là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên đối với QSDĐ". Pháp luật hợp đồng về QSDĐ sử dụng phương pháp điều chỉnh bình đẳng, thỏa thuận và được cơ cấu thành sáu nhóm quy phạm: nguyên tắc giao kết; chủ thể; đối tượng; nội dung; hình thức; và hiệu lực hợp đồng.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng quyền sử dụng đất và thực tiễn thi hành

Chương 2 đi sâu phân tích năm nội dung trụ cột của pháp luật hiện hành và chỉ rõ những mâu thuẫn giữa luật thực định với thực tiễn áp dụng:

Về chủ thể: Năng lực pháp luật của chủ thể bị giới hạn tùy thuộc nguồn gốc sử dụng đất. Cộng đồng dân cư và cơ sở tôn giáo bị cấm chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn (Khoản 2 Điều 181), nhưng cộng đồng dân cư được nhận tặng cho (Điểm c Khoản 1 Điều 169). Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao chỉ được thuê đất và không có quyền thực hiện giao dịch chuyển quyền (Điều 182). Hộ gia đình, cá nhân thuê đất trả tiền hàng năm không được chuyển nhượng hay thế chấp QSDĐ mà chỉ được giao dịch tài sản gắn liền. Tổ chức kinh tế sử dụng đất thuê trả tiền hàng năm không có quyền giao dịch QSDĐ, trừ ngoại lệ được cho thuê lại đất gắn với hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế (Khoản 3 Điều 149). Điều 191 Luật Đất đai năm 2013 quy định các trường hợp cấm nhận chuyển nhượng, tặng cho (như tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ/đặc dụng nếu không chuyển mục đích sử dụng; cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận đất trồng lúa). Về năng lực hành vi, Khoản 4 Điều 21 BLDS năm 2015 yêu cầu người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi tham gia giao dịch bất động sản phải có người đại diện theo pháp luật đồng ý, trong khi Khoản 2 Điều 77 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 lại buộc sự đồng ý này phải lập thành văn bản.

Về đối tượng: Điều kiện đưa QSDĐ vào giao dịch theo Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 gồm: có Giấy chứng nhận (ngoại lệ tại Khoản 1 Điều 168 và Khoản 3 Điều 186); đất không có tranh chấp; không bị kê biên bảo đảm thi hành án; và trong thời hạn sử dụng (Điều 126). Tác giả dẫn chiếu Án lệ số 36/2020/AL để khẳng định việc Giấy chứng nhận bị thu hồi, hủy bỏ do sai sót thủ tục không làm mất QSDĐ hợp pháp của đương sự, hợp đồng thế chấp đã giao kết đúng luật vẫn có hiệu lực pháp luật.

Về hình thức và hiệu lực: Khoản 1 Điều 502 BLDS năm 2015 yêu cầu hợp đồng phải lập thành văn bản. Điều 64 Nghị định 43/2014/NĐ-CP đặt ra yêu cầu chữ ký của tất cả thành viên hộ gia đình hoặc nhóm người sử dụng đất. Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 phân chia các hợp đồng bắt buộc công chứng, chứng thực và các hợp đồng được công chứng theo yêu cầu. Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền theo Điều 503 BLDS năm 2015 và Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 bị đồng nhất với "thời điểm đăng ký vào sổ địa chính", triệt tiêu tính độc lập giữa hiệu lực cam kết nội bộ giữa các bên và hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Điều kiện có hiệu lực phải đối chiếu với Điều 117 và Khoản 1 Điều 408 BLDS năm 2015.

Thực tiễn thi hành: Phân tích số liệu từ Báo cáo năm 2022 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy quy mô các giao dịch đã thực hiện trong thời gian thi hành Luật Đất đai năm 2013:

Loại hình hợp đồng/giao dịch QSDĐ Số lượng giao dịch Diện tích ghi nhận Tỷ trọng trong tổng số giao dịch
Thế chấp QSDĐ 4.117.482 39.858,05 nghìn ha 65,58%
Chuyển nhượng QSDĐ 3.177.936 23.292,46 nghìn ha 26,28%
Tặng cho QSDĐ 917.850 11.776,85 nghìn ha -
Cho thuê, cho thuê lại QSDĐ 81.829 7.156,29 ha 0,09%
Chuyển đổi QSDĐ nông nghiệp 65.446 45.093,27 ha -
Góp vốn bằng QSDĐ 11.106 4.349,97 ha 0,20%

Bất cập, vướng mắc qua thực tiễn xét xử:

  • Cầm cố QSDĐ: Bản án số 01/2021/DS-ST ngày 06/01/2021 của TAND huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tuyên hợp đồng cầm cố QSDĐ vô hiệu do vi phạm điều cấm (Khoản 4 Điều 12 và Điều 167 Luật Đất đai năm 2013), bất chấp việc các bên xác lập tự nguyện và BLDS năm 2015 không cấm cầm cố bất động sản;
  • Mượn QSDĐ: Đường lối giải quyết thiếu thống nhất. Bản án sơ thẩm số 15/2022/DS-ST ngày 21/9/2022 của TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An áp dụng quy định đòi tài sản và hợp đồng mượn tài sản của BLDS để buộc trả lại 7.151,7 $m^2$ đất; ngược lại, Bản án số 282/2020/DS-PT ngày 06/8/2020 của TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh lại áp dụng điều kiện tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 để bác bỏ tư cách đối tượng của hợp đồng mượn đất khi đất bị thu hồi;
  • Tư cách chủ thể hộ gia đình: BLDS năm 2015 đã bãi bỏ tư cách chủ thể quan hệ dân sự của hộ gia đình, và Khoản 1 Điều 56 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không coi hộ gia đình là đương sự trong vụ án dân sự. Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2013 vẫn trao quyền giao dịch cho hộ gia đình, dẫn đến việc xác định thành viên chịu trách nhiệm gặp nhiều bế tắc;
  • Thiếu tiêu chí xác định thời điểm bắt đầu và chấm dứt tranh chấp đất đai: Nghị quyết 02/2016/NQ-HĐTP chỉ xác định ngày phát sinh tranh chấp để tính thời hiệu khởi kiện. Quyết định giám đốc thẩm số 256/2020/DS-GĐT ngày 09/11/2020 của TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh phải dựa vào Thông báo thụ lý vụ án số 318/TB-TLVA ngày 28/12/2016 của TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh để làm căn cứ xác định đương sự biết đất đang có tranh chấp.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật hợp đồng về quyền sử dụng đất

Dựa trên cấu trúc đề cương tại mục lục, Chương 3 tập trung vào ba nhóm nội dung:

  • Xác định định hướng hoàn thiện pháp luật hợp đồng về QSDĐ nhằm bảo đảm tính tương thích giữa pháp luật dân sự và pháp luật đất đai, bảo vệ quyền tự do thỏa thuận hợp pháp của các bên;
  • Kiến nghị hoàn thiện các quy định cụ thể: loại bỏ tư cách chủ thể của hộ gia đình để đồng bộ với BLDS năm 2015; chính thức thừa nhận và quy định khung pháp lý cho hợp đồng cầm cố và hợp đồng mượn QSDĐ; tách bạch thời điểm có hiệu lực ràng buộc giữa các bên tham gia giao dịch với thời điểm đăng ký có hiệu lực đối kháng với người thứ ba; bổ sung tiêu chí pháp lý rõ ràng để xác định tình trạng đất có tranh chấp;
  • Kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành: Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các căn cứ tuyên bố hợp đồng vô hiệu, tránh lạm dụng lý do "vi phạm điều cấm" khi pháp luật chuyên ngành chỉ khuyết thiếu quy định chứ không cấm đoán.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận làm rõ bức tranh thực thi pháp luật hợp đồng về QSDĐ thông qua hệ thống dữ liệu toàn diện của Bộ Tài nguyên và Môi trường tính đến năm 2022, chứng minh giao dịch thế chấp (chiếm 65,58%) và chuyển nhượng (chiếm 26,28%) là hai loại hình áp đảo trên thị trường bất động sản.

Tác giả chỉ rõ và luận giải sâu sắc các điểm nghẽn kỹ thuật lập pháp giữa hai đạo luật lớn:

  • Sự mâu thuẫn về phạm vi chủ thể tham gia giao dịch (vấn đề hộ gia đình và quyền chuyển quyền thừa kế của người nước ngoài);
  • Khoảng trống pháp lý đối với hợp đồng cầm cố và mượn QSDĐ khiến các phán quyết của Tòa án rơi vào tình trạng thiếu nhất quán;
  • Sự nhầm lẫn giữa hiệu lực của giao dịch dân sự với hiệu lực đăng ký biến động đất đai.

Đóng góp tự nêu của công trình là việc hệ thống hóa toàn diện các quy phạm điều chỉnh hợp đồng về QSDĐ dưới góc độ một chế định độc lập, chỉ ra căn nguyên của sự bất cập trong xét xử thông qua các bản án thực tế (Bản án 01/2021/DS-ST, 15/2022/DS-ST, 282/2020/DS-PT, Quyết định 256/2020/DS-GĐT), từ đó đưa ra hệ thống kiến nghị sửa đổi có giá trị tham khảo trực tiếp cho tiến trình hoàn thiện Luật Đất đai.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự xác định một số giới hạn nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung tập trung chủ yếu vào các quy định của BLDS năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013, chỉ đối chiếu thứ yếu với Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Nghiên cứu giới hạn trong năm nhóm vấn đề: chủ thể, đối tượng, hình thức, nội dung và hiệu lực; các khía cạnh về bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm hay thủ tục đăng ký đất đai chuyên sâu chưa được phân tích độc lập;
  • Do hạn chế về thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tác giả chưa mở rộng khảo sát án lệ quốc tế về cơ chế đăng ký quyền đối với bất động sản.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra từ đề tài là tiếp tục theo dõi, đánh giá sự tiếp thu của các dự thảo Luật Đất đai sửa đổi đối với chế định hợp đồng QSDĐ và nghiên cứu sâu hơn về cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình khi Giấy chứng nhận bị thu hồi, hủy bỏ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên luật, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Dân sự và Luật Đất đai khi tìm kiếm nguồn tư liệu so sánh quy phạm giữa BLDS năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013.

Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất là hệ thống phân tích các bản án thực tế và án lệ tại Chương 2. Các luật sư, thẩm phán và chuyên viên pháp chế bất động sản có thể khai thác các luận điểm về hiệu lực của hợp đồng thế chấp khi Giấy chứng nhận bị thu hồi (Án lệ số 36/2020/AL), tiêu chí xác định đất có tranh chấp qua thông báo thụ lý vụ án, cũng như thực tiễn xét xử trái chiều đối với các giao dịch cầm cố và mượn quyền sử dụng đất.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân tích sự xung đột pháp luật về hợp đồng cầm cố QSDĐ như thế nào? BLDS năm 2015 thừa nhận cầm cố bất động sản tại Điều 310, nhưng Khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 không quy định quyền cầm cố QSDĐ. Khi xét xử, Tòa án nhân dân huyện Long Phú (Sóc Trăng) tại Bản án số 01/2021/DS-ST đã viện dẫn Khoản 4 Điều 12 Luật Đất đai năm 2013 để tuyên hợp đồng cầm cố vô hiệu vì vi phạm điều cấm. Tác giả lập luận rằng luật không quy định chứ không cấm, do đó việc tuyên vô hiệu là hạn chế quyền thỏa thuận hợp pháp của người dân.

2. Người nước ngoài không thuộc đối tượng người sử dụng đất theo Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 thì có thể là chủ thể của hợp đồng QSDĐ không? Có. Theo phân tích của tác giả dựa trên Khoản 3 Điều 186 Luật Đất đai năm 2013, trong trường hợp tất cả người nhận thừa kế QSDĐ đều là người nước ngoài (không thuộc diện được mua nhà ở gắn liền với QSDĐ ở tại Việt Nam), họ không được cấp Giấy chứng nhận nhưng vẫn có quyền ký kết hợp đồng chuyển nhượng hoặc tặng cho QSDĐ thừa kế đó cho chủ thể khác.

3. Theo Án lệ số 36/2020/AL được khóa luận trích dẫn, Giấy chứng nhận bị thu hồi thì hợp đồng thế chấp QSDĐ xử lý thế nào? Án lệ số 36/2020/AL khẳng định đối tượng của hợp đồng là QSDĐ chứ không phải văn bản Giấy chứng nhận. Nếu hợp đồng thế chấp tuân thủ đúng quy định tại thời điểm giao kết mà sau đó Giấy chứng nhận bị cơ quan nhà nước thu hồi, hủy bỏ do sai sót về diện tích đất hoặc trình tự, thủ tục hành chính thì việc thu hồi đó không làm mất QSDĐ hợp pháp của bên sử dụng đất; hợp đồng thế chấp vẫn có hiệu lực pháp luật.

4. Vì sao tác giả kiến nghị loại bỏ tư cách chủ thể của "hộ gia đình" trong hợp đồng về QSDĐ? Bởi vì BLDS năm 2015 đã bãi bỏ tư cách chủ thể độc lập của hộ gia đình trong quan hệ dân sự, và Khoản 1 Điều 56 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định hộ gia đình là đương sự trong vụ án dân sự. Việc Luật Đất đai năm 2013 vẫn duy trì chủ thể hộ gia đình gây khó khăn lớn cho việc xác minh thành viên có quyền định đoạt, làm phát sinh tranh chấp chữ ký hợp đồng theo Điều 64 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.

5. Điểm bất cập về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất được chỉ ra là gì? Điều 503 BLDS năm 2015 và Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định việc chuyển QSDĐ chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Quy định này làm mất đi sự phân biệt cần thiết giữa hiệu lực của hợp đồng (ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa các bên ký kết từ thời điểm công chứng/giao kết) với hiệu lực đăng ký biến động (phát sinh quyền tài sản và hiệu lực đối kháng với bên thứ ba).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Văn Cao là công trình nghiên cứu chuyên khảo có cấu trúc chặt chẽ và tính học thuật nghiêm túc, tập trung làm sáng tỏ bản chất pháp lý của hợp đồng về QSDĐ trong sự tương quan giữa BLDS năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013. Tác giả đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc phân tích lý luận, quy phạm thực định với số liệu thống kê quản lý nhà nước và thực tiễn xét xử các vụ án điển hình. Những phát hiện về sự bất tương thích trong chế định chủ thể, đối tượng và hiệu lực hợp đồng cùng hệ thống giải pháp được đề xuất là tài liệu tham khảo có giá trị cả về mặt lập pháp lẫn áp dụng pháp luật thực tế.