Chương 1: Một số van đê lý luận chung về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia Chương 2: Các quy định của pháp luật về quyên miễn trừ tư pháp của quốc gia trong tư pháp quốc té Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định về quyên miễn trừ tư pháp của quốc gia trong tu pháp quốc tế các nước và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam. CHUONG 1: MOT SO VAN DE LY LUAN CHUNG VE QUYEN MIEN TRU TU PHAP CUA QUOC GIA TRONG TU PHAP QUOC TE Với su phát triển của nền kinh tế cũng như quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, không một quốc gia nào có thể tồn tại mà hoàn toàn đóng cửa với thế giới bên ngoài. Chính vì lí do đó, các quốc gia đã tích cực tham gia vào các quan hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế. Không chỉ tham gia vào các quan hệ pháp lý với các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế, quốc gia còn tham gia vào các quan hệ với cá nhân, pháp nhân của nước khác trong các lĩnh vực dân sự, thương mại,.
Tuy nhiên, khi tham gia các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng với các chủ thể khác của tư pháp quốc tế, quốc gia được hưởng quy chế pháp lý đặc biệt, không ngang hàng với các cá nhân và pháp nhân do quốc gia — với thuộc tính không tách rời là chủ quyền - được hưởng quyền miễn trừ tư pháp. Khái quát chung về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong tư pháp quốc tế 1. Khái niệm quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong tư pháp quốc té 1. Định nghĩa Trong giao tiếp thông thường, “quốc gia” là thuật ngữ được sử dụng với rất nhiều từ đồng nghĩa như “đất nước”, “nhà nước”, “nước”,.
Đây cũng là thuật ngữ có thê 33 66. được sử dụng để chỉ tất cả các hoạt động của chính phủ như cơ cau tổ chức, các hoạt động do các co quan nhà nước thực hiện. Theo Gamal Moursi Badr thì khái niệm “quốc gia” được sử dụng dé chỉ “chính phủ quốc gia và con người trên một lãnh thé nhất định”[2. Tuy nhiên, hiện nay, trên thế giới chưa có một văn bản pháp lý nào đưa ra khái niệm về chủ thé đặc biệt này.
Khoa học pháp lý quốc tế hiện nay chi đưa ra những tiêu chí dé xác định một thực thé có danh nghĩa quốc gia. Theo Điều 1 Công ước Montevideo về quyền và nghĩa vụ của quốc gia được thông qua tại Hội nghị quốc tế các nước châu Mỹ ngày 26/12/1933 thì một thực thể được coi là quốc gia theo pháp luật quốc tế quốc tế phải có 4 yếu tố cơ bản: dân cư cư trú thường xuyên; lãnh thổ được xác định; chính phủ; và khả năng tham gia vào các quan hệ với các chủ thể quốc tế khác. Khi có đầy đủ những yếu tố trên, một thực thê sẽ được xem như là một quốc gia với thuộc tính chính trị pháp lý không thé tách rời là chủ quyền [56, tr 62]. Một trong những biểu hiện của chủ quyền quốc gia là thâm quyén của quốc gia được theo pháp luật quốc tế được ban hành và thực thi các quy định của pháp luật đối với các sự việc, con người và tài sản trên lãnh thổ của quốc gia mình (còn được gọi là thâm quyền tài phán của quốc gia).
Quyền tài phán của quốc gia bao gồm ba Z loại: quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Như vậy, một trong những biện pháp dé quốc gia thực hiện quyên tài phán của mình đối với các hoạt động của các thể nhân, pháp nhân cũng như nước ngoài tham gia vào các hoạt động trên lãnh thổ của quốc gia là thông qua hoạt động tố tụng của tòa án. Trong khi đó, sự phát triển của nền kinh tế thé giới đã khiến vai trò và chức năng của quốc gia được mở rộng. Không chỉ tham gia vào các quan hệ pháp luật với các chủ thé khác của luật quốc tế nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại, quốc gia còn tham gia vào các quan hệ pháp luật với các tổ chức và công dân nước ngoài trong trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, thương mại, lao động,.
với mục tiêu phát triển kinh tế đất nước. Các quan hệ giữa một bên là quốc gia, một bên là thể nhân hoặc cơ quan, tổ chức của quốc gia khác trong lĩnh vực dân sự, thương mại, lao động là các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Song song với sự phát triển các quan hệ giữa quốc gia với các chủ thể khác của tư pháp quốc tế, là sự gia tăng về số lượng các vụ tranh chấp giữa những chủ thé nay. Tuy nhiên, tòa án của quốc gia — với tư cách là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự, thương mại, kinh tế phát sinh từ các quan hệ tư pháp quốc tế - lại bị hạn chế thâm quyền đối với quốc gia.
Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và sự bình dang chủ quyền giữa các quốc gia đã khiến các chủ thể này được hưởng quyền miễn trừ đối với thâm quyên tài phán của quốc gia khác, mà cụ thể là thâm quyền xét xử của tòa án của quốc gia khác. Theo Black’s law Dictionary thì thuật ngữ “immunity” ( “miễn trừ”) được hiểu là việc cho phép một chủ thé không phải thực hiện các nghĩa vụ mà pháp luật yêu cầu các cá nhân khác phải thực hién'. Theo tiếng Latinh, “mién trừ” được dịch là “immunitas” có nghĩa là không phải thực hiện một nghĩa vụ, một hoạt động nào đó. Trong khoa học pháp lý, quyền miễn trừ là những ưu đãi và đặc quyền pháp lý do pháp luật quy định, cho phép những chủ thé nhất định không phải thực hiện một số nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý cụ thé dé bảo đảm cho những chủ thể này thực hiện những chức năng của họ [62].
Tại Báo cáo thứ hai về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia và quyền miễn trừ đối với tài sản của quốc gia, Sompong Sucharitkul — Báo cáo viên đặc biệt của Uy ban Luật pháp quốc tế của Liên hợp quốc (International Law Commission — ILC) có nêu: “Miễn trừ” là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng trong quan hệ trái quyền”. Trong một quan hệ ma một “guyén” của chu thê này tương đương với “nghia vu” của một ' An exemption from performing duties which thelaw generally requires other citizens to perform. ? “Quan hệ trái quyền là những quyên dân sự trong đó chủ thé quyén thực hiện quyền để thỏa mãn yêu câu của mình thông qua hành vi của chủ thể có nghĩa vụ, phụ thuộc vào ý chí của người khác” [61, tr 43] chủ thê khác, thì quyền “mién trừ” mà một cá nhân hoặc một tô chức hay một quốc gia được trao cho đồng nghĩa với việc chủ thể có quyền tương ứng sẽ không còn “quyên lực ” nào nữa (.” và “ “miễn trừ” là một dạng đặc quyền” [30]. Trên cơ sở khái niệm “quốc gia” và “miễn trừ”, định nghĩa về quyền miễn trừ quốc gia đã được các nhà nghiên cứu đưa ra.
Theo Stein, quyền miễn trừ quốc gia là “quyên của quốc gia và các cơ quan của quốc gia không phải chịu trách nhiệm về các hành vi của mình tại cơ quan của quốc gia khác ”. Brohmer thì cho rằng, quyền miễn trừ quốc gia là hệ thống các quy định mang tính loại trừ - những trường hợp mà tòa án của một quốc gia không có thắm quyền giải quyết. Trong khi đó, theo Rajesh Venugopalan, trong bối cảnh pháp luật quốc tế hiện nay, quyền miễn trừ quốc gia được hiểu là “các nguyên tắc pháp lý và các quy định trên cơ sở đó quốc gia có thể yêu cầu miễn trừ hoặc không phải tuân theo thẩm quyển lập pháp, hành pháp hoặc tu pháp của quốc gia nước ngoài. Như vậy, có thê hiểu, quyền miễn trừ của quốc gia (hay còn được gọi là quyền miễn trừ nhà nước) là tổng hợp các quy định và các nguyên tắc pháp lý mà trên cơ sở đó quốc gia và các cơ quan của quốc gia không phải tuân theo thâm quyền tài phán của quốc gia nước ngoài.
Quyền miễn trừ quốc gia là một trong những nguyên tắc lâu đời trong quan hệ quốc tế, được xem như hàng rào bảo vệ cho quốc gia tại cơ quan tài phán của quốc gia nước ngoài. Mục đích chính của quyền miễn trừ quốc gia là nhăm đảm bảo các quốc gia có thé thực hiện một cach thuận lợi các chức nang đối ngoại và đối nội của mình thông qua việc đảm bảo cho quốc gia không phải tham gia vào các thủ tục tô tụng tại quốc gia nước ngoài. Ban đầu, quyền miễn trừ quốc gia được hình thành từ các quyết định của tòa án các quốc gia dành cho nhau trên cơ sở mỗi quan hệ thân thiện giữa các quốc gia. Về sau, nó dan trở thành một tập quán quốc tế, được cộng đồng quốc tế thừa nhận.
Trong lời nói đầu của Công ước của Liên hợp quốc về quyền miễn trừ tài phán của quốc gia và quyền miễn trừ đối với tài sản của quốc gia năm 2004 (sau đây gọi tắt là Công ước UNJISP năm 2004) đã ghi nhận: “Các quyên miễn trừ tài phán của quốc gia và tài sản của quốc gia được thừa nhận là một tập quán quốc tế”. Với vai trò quan trọng của quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ quốc tế mà đặc biệt là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, nhiều nước đã ban hành các đạo luật về quyền miễn trừ của quốc trong hệ thống pháp luật của minh cũng như tham gia vào các điều ước quốc tế về van dé nay. Sự tăng cường giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực thương mại cũng như những lĩnh vực khác của đời sông xã hội giữa các quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa đã khiên khái niệm và nội dung của quyên miên trừ quôc gia có sự thay đôi. Dù vân 4 còn nhiều quan điểm khác nhau về nội dung của quyền miễn trừ quốc gia nhưng hầu hết các học giả đều thừa nhận, một trong những nội dung quan trọng và chủ yếu của quyền miễn trừ quốc gia chính là quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia.
Hiện nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia. Dé hiểu rõ về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia, trước hết chúng ta cần phải hiểu được khái niệm “# pháp”.