Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Tương trợ tư pháp về hình sự theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" do nghiên cứu sinh Dương Đình Công thực hiện tại chuyên ngành Luật quốc tế (mã số: 9801 08), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Minh Ngọc và TS. Nguyễn Hồng Bắc.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quá trình toàn cầu hóa kinh tế, văn hóa và xã hội thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc tế, đồng thời làm nảy sinh và gia tăng các loại tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm xuyên quốc gia và tội phạm có tính chất quốc tế. Nhận định từ Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) cho thấy tội phạm xuyên quốc gia đã trở thành mối đe dọa đối với hòa bình và phát triển, tốc độ quốc tế hóa của tội phạm diễn ra nhanh hơn sự thích ứng của tư pháp quốc gia. Để thu thập chứng cứ và tài liệu phục vụ giải quyết vụ án hình sự vượt ra ngoài biên giới, tương trợ tư pháp hình sự (TTTPHS) đã chuyển đổi từ cơ chế thư ủy thác tư pháp ngoại giao truyền thống (Letters rogatory) sang các điều ước quốc tế đa phương, khu vực và song phương.
Tại Việt Nam, các chủ trương của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết số 49-NQ/TW (2005), Chỉ thị số 46-CT/TW (2010) và Nghị quyết số 27-NQ/TW (2022) đều nhấn mạnh yêu cầu tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và hoàn thiện hệ thống pháp luật tương thích với các cam kết quốc tế. Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) đã tạo cơ sở pháp lý ban đầu. Tuy nhiên, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 bộc lộ nhiều điểm bất cập: quy định gộp cả bốn lĩnh vực (dân sự, hình sự, dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù); chưa bao quát được các cam kết trong những điều ước quốc tế mới ký kết; thiếu văn bản hướng dẫn thi hành. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống từ góc độ pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam nhằm phục vụ yêu cầu xây dựng dự án Luật Tương trợ tư pháp hình sự là yêu cầu cấp thiết.
Mục tiêu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ các vấn đề lý luận về TTTPHS; phân tích quy định pháp luật quốc tế và thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thi hành TTTPHS tại Việt Nam; từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TTTPHS của Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung, nguyên tắc, bản chất, ý nghĩa của TTTPHS và pháp luật TTTPHS.
- Phân tích, bình luận thực trạng quy định pháp luật quốc tế để xác định điểm tương đồng, khác biệt và sự thay đổi trong các điều ước quốc tế.
- Phân tích, bình luận quy định của pháp luật Việt Nam về TTTPHS, nhận diện các hạn chế làm cơ sở cho kiến nghị hoàn thiện.
- Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật TTTPHS của Việt Nam, nhận diện khó khăn, vướng mắc để đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động.
- Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu:
- Câu hỏi bao trùm: Trong giai đoạn hiện nay, pháp luật TTTPHS (xét cả về lý luận và thực tiễn) đã đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có tính chất quốc tế hay chưa?
- Giả thuyết bao trùm: Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về cơ bản đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm xuyên quốc gia, tuy nhiên vẫn cần được tiếp tục hoàn thiện cả về lý luận, quy định pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TTTPHS.
- Câu hỏi và giả thuyết cụ thể 1: Hệ thống lý luận về TTTPHS bao gồm những vấn đề gì? (Giả thuyết: Bao gồm các quan niệm khoa học về khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, nội dung nhưng còn điểm chưa thống nhất, cần tiếp tục hoàn thiện).
- Câu hỏi và giả thuyết cụ thể 2: Nội dung pháp luật quốc tế về TTTPHS có đáp ứng nhu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, tăng cường hợp tác giữa các quốc gia hữu quan hay không? (Giả thuyết: Cơ bản đáp ứng nhưng cần nghiên cứu hoàn thiện, phân tích mức độ tương đồng và khác biệt làm cơ sở đánh giá tính tương thích của pháp luật Việt Nam).
- Câu hỏi và giả thuyết cụ thể 3: Quy định pháp luật Việt Nam về TTTPHS có phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia hay không? Thực tiễn áp dụng có thuận lợi, khó khăn, vướng mắc gì và cần giải pháp nào? (Giả thuyết: Cơ bản phù hợp với pháp luật quốc tế nhưng cần tiếp tục hoàn thiện; thực tiễn có thuận lợi lẫn khó khăn, đòi hỏi giải pháp toàn diện).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan niệm, quan điểm khoa học trong và ngoài nước về TTTPHS; quy định pháp luật về TTTPHS trong các điều ước quốc tế đa phương phổ cập, đa phương chuyên biệt, khu vực và song phương; quy định pháp luật và thực tiễn thi hành TTTPHS tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về thuật ngữ và nội hàm: Sử dụng thống nhất thuật ngữ "tương trợ tư pháp hình sự" (TTTPHS) theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các hoạt động hỗ trợ thu thập chứng cứ, tống đạt giấy tờ, truy cứu trách nhiệm hình sự, trao đổi thông tin... nhằm giải quyết vụ án hình sự; loại trừ hoạt động dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
- Về nội dung: Khảo sát các điều ước quốc tế toàn cầu (Công ước 1988 về chống buôn bán ma túy, UNTOC 2000, UNCAC 2003, Hiệp định TTTPHS mẫu của Liên hợp quốc 1990); điều ước quốc tế khu vực (Hiệp định TTTPHS của ASEAN, Công ước châu Âu 1959, Nghị định thư sửa đổi 1978, Công ước châu Âu 2000); 26 Hiệp định song phương có nội dung TTTPHS của Việt Nam; pháp luật Việt Nam (Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi 2021). Luận án không đi sâu vào kênh hợp tác chuyên biệt của cảnh sát, hải quan, cơ quan tình báo tài chính, cũng như không nghiên cứu cơ chế tài phán của Tòa án hình sự quốc tế (ICC) theo Quy chế Rome 1998.
- Về không gian: Tập trung vào thực tiễn Việt Nam qua báo cáo tổng kết của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao và các bản án của Tòa án; tham khảo thực tiễn một số quốc gia.
- Về thời gian: Số liệu khảo sát thực tiễn giới hạn từ năm 2008 đến thời điểm nghiên cứu (thời kỳ thi hành Luật Tương trợ tư pháp năm 2007).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả đã điểm luận và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước theo ba hướng nghiên cứu chính:
| Hướng nghiên cứu |
Nhóm công trình quốc tế |
Nhóm công trình tại Việt Nam |
| Lý luận về TTTPHS |
- OECD (2012): Báo cáo Typology on Mutual Legal Assistance in Foreign Bribery Cases về nguyên tắc tội phạm kép, có đi có lại. - Robert J. Currie (1998, 2000): Nghiên cứu mô hình TTTPHS của Canada và mối quan hệ giữa TTTPHS với bảo đảm quyền con người. - Daniel Halvarsson (2015): Nghiên cứu về quyền của nghi phạm trong TTTPHS. - Clive Geoffrey Hasfield (2004): Luận án tiến sĩ tại ĐH Southampton về hai mô hình TTTPHS theo quan điểm Heymann. - UNODC (2012): Tài liệu Manual on Mutual Legal Assistance and Extradition về truyền thống Civil Law - Common Law. - Hans G. Nilsson, IRCP: Nghiên cứu cấu trúc hợp tác trong Liên minh châu Âu (EU). |
- Nguyễn Xuân Yêm (2000): Dẫn độ tội phạm, tương trợ pháp lý về hình sự và chuyển giao phạm nhân quốc tế trong phòng chống tội phạm. - Nguyễn Ngọc Anh, Bùi Anh Dũng (2007) & Nguyễn Giang Nam (2012): Nghiên cứu TTTPHS của lực lượng Cảnh sát nhân dân. - Ngô Hữu Phước (2015): Chuyên khảo Tương trợ tư pháp về hình sự trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. - Nguyễn Thị Thuận (2006, 2007, 2022): Giáo trình và chuyên khảo Luật hình sự quốc tế. - Nguyễn Quốc Việt (2016): Giáo trình Luật tương trợ tư pháp. - VKSND tối cao (2020): Báo cáo tổng thuật đề tài cơ sở lý luận và thực tiễn về TTTPHS. |
| Quy định pháp luật về TTTPHS |
- Rochelle Pastana Ribeiro: Nghiên cứu thu hồi tài sản theo UNCAC. - Suzanne Vergnolle, Peter Swire & Justin D. Hemmings (2017): Nghiên cứu cơ chế thu thập chứng cứ điện tử xuyên biên giới. - UNODC (2006): Criminal Justice Assessment Toolkit về các kênh hợp tác đa phương. |
- Chữ Văn Dũng (2010): Nghiên cứu quy định pháp luật liên quan hoạt động của Interpol Việt Nam. - Phạm Mạnh Hùng (2010): Đề tài cấp Bộ về hoàn thiện quy định hợp tác quốc tế trong Bộ luật Tố tụng hình sự. - Bộ Tư pháp - Vụ Pháp luật quốc tế (2006): Tư liệu tham khảo xây dựng Luật Tương trợ tư pháp. |
| Thực tiễn hoạt động TTTPHS |
- APEC (2014) & ADB/OECD (2017): Báo cáo thực tiễn yêu cầu tương trợ tư pháp trong án tham nhũng tại 31 khu vực pháp lý châu Á - Thái Bình Dương. - Manuel T. Soriano Jr: Khảo sát thực tiễn hợp tác tại Malaysia và Philippines. - IRCP: Báo cáo thực tiễn hợp tác tư pháp hình sự nội khối EU. |
- Lại Thị Huệ, Đỗ Quý Hoàng: Các luận án tiến sĩ nghiên cứu thực tiễn tương trợ tư pháp theo nhóm tội danh cụ thể. - VKSND tối cao (2017): Chuyên đề tổng kết 10 năm thi hành quy định TTTPHS (2007–2017). |
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
- Các nghiên cứu quốc tế thường đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể (thu hồi tài sản, chứng cứ điện tử, bảo đảm nhân quyền) hoặc chỉ giới hạn trong khuôn khổ khu vực (EU, APEC), chưa có công trình nào đối chiếu toàn diện hệ thống điều ước quốc tế ở ba cấp độ (toàn cầu, khu vực, song phương) với pháp luật Việt Nam.
- Các công trình trong nước chủ yếu tiếp cận theo góc độ ngành (lực lượng Công an, Viện kiểm sát), theo loại tội phạm đơn lẻ (ma túy, tham nhũng), hoặc phân tích pháp luật thực định mang tính mô tả, chưa phân định ranh giới lý luận giữa TTTPHS với các hình thức hợp tác khác (dẫn độ, chuyển giao người chấp hành án, hỗ trợ kỹ thuật).
- Đa số các công trình được công bố trước đây dựa trên dữ liệu cũ, chưa cập nhật sự thay đổi của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi 2021) và các điều ước quốc tế thế hệ mới mà Việt Nam tham gia, chưa đáp ứng đầy đủ luận cứ khoa học cho việc xây dựng một đạo luật chuyên biệt về TTTPHS.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm
- Lý thuyết Chủ quyền quốc gia (National Sovereignty): Bắt nguồn từ tư tưởng của Niccolò Machiavelli (Quân vương, 1532), Jean Bodin, Thomas Hobbes, John Locke, Jean-Jacques Rousseau, được cụ thể hóa qua Hòa ước Westphalia (1648) và phát triển bởi Tudor Jones (về chủ quyền pháp lý và chủ quyền chính trị de facto, đối nội và đối ngoại). Theo đó, quyền lực tư pháp của một quốc gia chấm dứt tại đường biên giới lãnh thổ; việc thực thi hành vi tố tụng trên lãnh thổ nước khác bắt buộc phải thông qua sự đồng ý và tương trợ từ quốc gia sở tại.
- Thuyết Vị lợi (Utilitarianism): Tiếp nối nguyên tắc "aut dedere aut judicare" (không dẫn độ thì phải truy tố) của Hugo Grotius (1624, Chiến tranh và Hòa bình) và khái niệm "civitas maxima" (nhà nước siêu quốc gia vì lợi ích chung) của Christian Wolff (thế kỷ 18), Jeremy Bentham (1748-1832) và Thomas Hill Green (1836-1883) xác lập luận điểm: nhà nước có trách nhiệm thúc đẩy lợi ích công và bảo vệ trật tự xã hội thông qua các cơ chế phối hợp nhằm tối đa hóa hiệu quả phòng chống tội phạm.
- Khái niệm và thuật ngữ: Thuật ngữ quốc tế tương đương gồm: Mutual Legal Assistance in Criminal Matters (tiếng Anh), D'entraide judiciaire en matière pénale (tiếng Pháp), Die Rechtshilfe in Strafsachen (tiếng Đức). Luận án xác định TTTPHS là hoạt động hỗ trợ pháp lý giữa các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia nhằm thực hiện các hành vi tố tụng riêng biệt phục vụ giải quyết vụ án hình sự cụ thể, dựa trên điều ước quốc tế, nguyên tắc có đi có lại và pháp luật quốc gia.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận án để làm rõ các khái niệm lý luận, cấu trúc quy phạm pháp luật và tổng kết thực tiễn.
- Phương pháp thống kê: Áp dụng tại Chương 1 để phân loại tình hình nghiên cứu và tại Chương 4 để xử lý số liệu ủy thác tư pháp hình sự.
- Phương pháp phân tích pháp lý: Sử dụng tại Chương 2, Chương 3 và Chương 4 để giải thích quy chuẩn, cấu trúc điều ước quốc tế và quy định của luật thực định.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định pháp luật quốc tế với pháp luật Việt Nam; so sánh cơ chế tiếp cận giữa truyền thống Civil Law và Common Law; so sánh quy định của các giai đoạn lịch sử.
- Phương pháp phân tích tình huống thực tiễn: Sử dụng tại Chương 4 thông qua các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài để đánh giá những vướng mắc phát sinh trong thực tế.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản điều ước quốc tế đa phương (Công ước 1988, UNTOC 2000, UNCAC 2003, Hiệp định mẫu LHQ 1990), điều ước khu vực (ASEAN, EU) và 26 Hiệp định song phương của Việt Nam.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Hiến pháp, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi 2021).
- Báo cáo tổng kết công tác TTTPHS của VKSND tối cao (các năm 2017, 2019, 2020), các ấn phẩm hướng dẫn của UNODC, OECD, APEC, và các bản án xét xử của Tòa án nhân dân.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến đề tài luận án
Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, chia tách thành ba nhóm vấn đề: lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn thi hành TTTPHS. Tác giả phân tích các kết quả đã đạt được của các học giả tiền bối, đồng thời chỉ rõ những điểm chưa thống nhất về khái niệm, phạm vi và nguyên tắc áp dụng. Từ việc chỉ ra các khoảng trống học thuật, chương 1 xác lập hệ thống mục tiêu, 4 nhiệm vụ nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết khoa học, đối tượng, phạm vi và các phương pháp nghiên cứu được triển khai trong luận án.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về tương trợ tư pháp hình sự
Chương 2 tập trung xây dựng nền tảng lý luận cho toàn bộ đề tài:
- Khái niệm và đặc điểm: Luận giải sự hình thành của TTTPHS từ cơ chế thư ủy thác tư pháp ngoại giao (Letters rogatory) sang quy phạm thành văn; khẳng định việc tiếp cận TTTPHS theo nghĩa hẹp (tách biệt hoàn toàn với dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù do khác biệt về bản chất, mục tiêu và thủ tục).
- Cơ sở triết lý: Chứng minh TTTPHS bắt nguồn từ sự kết hợp giữa lý thuyết Chủ quyền quốc gia (giới hạn quyền tài phán theo lãnh thổ) và thuyết Vị lợi (hợp tác vì lợi ích chung trong trấn áp tội phạm).
- Lịch sử phát triển: Trình bày 6 giai đoạn phát triển lịch sử theo phân kỳ của A.G. Volevodz, từ các thỏa thuận cổ đại (Hiệp ước Ramses II - Hattusili III năm 1296–1280 TCN), Hiệp định Amiens 1802 cho đến sự ra đời của các công ước Liên hợp quốc hiện đại.
- Kinh nghiệm khu vực EU: Phân tích tiến trình lập pháp tại châu Âu dựa trên nguyên tắc thừa nhận lẫn nhau (mutual recognition), từ Công ước châu Âu 1959, Công ước Schengen 1990, các Quyết định khung năm 2003 (phong tỏa tài sản), năm 2008 (thu thập chứng cứ), Chương trình Stockholm 2009 đến Lệnh điều tra châu Âu năm 2014 và mô hình Nhóm điều tra chung (JIT).
- Nguyên tắc và nội dung: Phân tích hệ thống các nguyên tắc cơ bản (tôn trọng chủ quyền quốc gia, bình đẳng, có đi có lại, nguyên tắc tội phạm kép, bảo đảm quyền con người); phân loại các hoạt động TTTPHS truyền thống và phi truyền thống.
Chương 3: Thực trạng pháp luật quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự
Chương 3 phân tích cơ chế pháp lý quốc tế điều chỉnh hoạt động TTTPHS:
- Cơ sở pháp lý đa tầng: Phân tích quy định trong các điều ước quốc tế đa phương phổ cập (Công ước chống ma túy 1988, UNTOC 2000, UNCAC 2003, Hiệp ước mẫu của Liên hợp quốc 1990); điều ước khu vực (Hiệp định TTTPHS của ASEAN, các văn kiện của Hội đồng châu Âu và EU); hệ thống 26 hiệp định song phương mà Việt Nam đã ký kết.
- Phạm vi các hoạt động cụ thể: Phân tích chi tiết quy chế pháp lý đối với từng hoạt động tương trợ: tống đạt giấy tờ tố tụng; triệu tập và lấy lời khai nhân chứng, người giám định; khám xét, thu giữ tài liệu đồ vật; phong tỏa tài khoản, tịch thu và xử lý tài sản do phạm tội mà có; lấy lời khai qua truyền hình trực tuyến (video-link); điều tra đặc biệt.
- Căn cứ từ chối tương trợ: Hệ thống hóa 07 trường hợp từ chối phổ biến theo chuẩn mực quốc tế: yêu cầu liên quan đến tội phạm chính trị; xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự công cộng; tội phạm thuần túy quân sự; không thỏa mãn nguyên tắc tội phạm kép; có nguy cơ vi phạm nhân quyền hoặc dẫn đến truy bức mang tính phân biệt đối xử; không phù hợp với pháp luật của quốc gia được yêu cầu.
- Thẩm quyền và thủ tục: Phân tích vai trò của Cơ quan trung ương (Central Authority), quy trình lập hồ sơ, ngôn ngữ dịch thuật, bảo mật thông tin và giới hạn sử dụng chứng cứ thu thập được qua kênh tương trợ.
Chương 4: Thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp hình sự ở Việt Nam
Chương 4 đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam:
- Thực trạng pháp luật Việt Nam: Phân tích các quy định về TTTPHS trong Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và phần Hợp tác quốc tế trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi 2021). Chỉ ra các bất cập: mô hình luật ghép bốn chế định gây phân tán; thiếu quy định điều chỉnh các biện pháp điều tra phi truyền thống (video-link, điều tra chung, thu hồi tài sản qua kênh điện tử); thiếu quy định cụ thể về thời hạn giải quyết và cơ chế từ chối; thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết.
- Thực tiễn thi hành (2008 – nay): Tổng kết kết quả đạt được qua các báo cáo thực tiễn của VKSND tối cao; ghi nhận việc giải quyết thành công nhiều vụ án phức tạp có yếu tố nước ngoài thông qua ủy thác tư pháp. Nhận diện các khó khăn: thời gian giải quyết yêu cầu kéo dài; tỷ lệ trả lời ủy thác từ một số đối tác nước ngoài còn hạn chế do xung đột pháp luật Civil Law - Common Law; rào cản ngôn ngữ dịch thuật tố tụng; kinh phí và hạ tầng công nghệ thông tin chưa đáp ứng yêu cầu.
- Đề xuất hoàn thiện và giải pháp:
- Về mặt lập pháp: Đề xuất sửa đổi các quy định bất cập trước mắt trong hệ thống pháp luật hiện hành; xây dựng một đạo luật độc lập là Luật Tương trợ tư pháp hình sự, nội luật hóa đầy đủ các chuẩn mực từ UNTOC, UNCAC và Hiệp định ASEAN.
- Về mặt tổ chức thi hành: Kiện toàn bộ máy và nâng cao năng lực cho Cơ quan trung ương (VKSND tối cao); hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành giữa VKSND tối cao, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Ngoại giao; xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử quản lý các yêu cầu ủy thác tư pháp; đẩy mạnh đàm phán ký kết mới các hiệp định song phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Luận án làm rõ và thống nhất nhận thức về định nghĩa, đặc điểm, nguồn gốc và nguyên tắc của TTTPHS; xác lập ranh giới pháp lý phân biệt TTTPHS theo nghĩa hẹp với dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
- Luận án luận giải cơ sở triết học và lý thuyết nền tảng của TTTPHS dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết Chủ quyền quốc gia và Thuyết Vị lợi (Utilitarianism).
- Luận án chỉ ra sự hạn chế của mô hình cấu trúc lập pháp tích hợp tại Việt Nam và phân tích mức độ tương thích giữa pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực pháp luật quốc tế ở cả ba cấp độ (đa phương phổ cập, khu vực, song phương).
Kiến nghị và giải pháp thực tiễn
- Kiến nghị lập pháp: Đề xuất xây dựng dự án Luật Tương trợ tư pháp hình sự riêng biệt nhằm thay thế các quy định về hình sự trong Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; bổ sung quy định về các biện pháp tương trợ hiện đại (thu thập dữ liệu điện tử, truyền hình trực tuyến, điều tra chung, chia sẻ tài sản tịch thu).
- Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
- Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong nước và Cơ quan trung ương.
- Tăng cường đào tạo chuyên sâu về kỹ năng tư pháp quốc tế, ngoại ngữ và pháp luật so sánh cho đội ngũ cán bộ điều tra viên, kiểm sát viên.
- Đầu tư cơ sở vật chất, số hóa quy trình quản lý hồ sơ tương trợ tư pháp hình sự.
- Mở rộng mạng lưới ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp song phương với các đối tác trọng điểm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án chỉ tập trung vào chế định TTTPHS theo nghĩa hẹp, không đi sâu vào các chế định dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, các kênh nghiệp vụ cảnh sát (Interpol, Aseanapol) hoặc kênh hải quan, tình báo tài chính; không nghiên cứu sâu cơ chế hợp tác với các cơ quan tài phán hình sự quốc tế độc lập (Tòa án hình sự quốc tế ICC). Số liệu thực tiễn được giới hạn khảo sát trong phạm vi từ năm 2008 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế chuyển giao chứng cứ và tương tác tố tụng với Tòa án hình sự quốc tế theo Quy chế Rome 1998; nghiên cứu khung pháp lý điều chỉnh việc thu thập, lưu trữ và đánh giá giá trị chứng cứ kỹ thuật số xuyên biên giới trong bối cảnh tội phạm mạng gia tăng.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học, chuẩn mực quốc tế và số liệu thực tiễn trực tiếp phục vụ quá trình soạn thảo, thẩm tra dự án Luật Tương trợ tư pháp hình sự do VKSND tối cao chủ trì.
- Đối với cơ quan thực thi pháp luật: Là tài liệu tham khảo nghiệp vụ cho kiểm sát viên, điều tra viên, thẩm phán tại VKSND tối cao, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Ngoại giao trong việc lập, thẩm định, gửi và thực hiện các yêu cầu ủy thác tư pháp hình sự đi và đến.
- Đối với công tác nghiên cứu và đào tạo: Cung cấp tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật quốc tế, Luật hình sự và Tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân định phạm vi TTTPHS theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như thế nào?
Theo nghĩa rộng, TTTPHS bao hàm cả hoạt động dẫn độ tội phạm và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Theo nghĩa hẹp, TTTPHS chỉ bao gồm các hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia nhằm thực hiện các hành vi tố tụng riêng biệt (tống đạt giấy tờ, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, khám xét, phong tỏa tài sản, truy cứu trách nhiệm hình sự...) để giải quyết vụ án hình sự. Luận án tiếp cận nghiên cứu theo nghĩa hẹp, không bao gồm dẫn độ và chuyển giao người chấp hành án phạt tù do sự khác biệt về mục đích, cơ chế thực thi và hệ quả pháp lý.
2. Hai nền tảng lý thuyết cốt lõi được luận án sử dụng để giải thích bản chất của TTTPHS là gì?
Luận án chỉ ra TTTPHS bắt nguồn từ hai nền tảng:
- Lý thuyết Chủ quyền quốc gia: Quyền lực tài phán mang tính tối cao bên trong lãnh thổ nhưng chấm dứt tại biên giới quốc gia, do đó việc thu thập chứng cứ ở nước ngoài bắt buộc phải thông qua sự tương trợ của quốc gia sở tại.
- Thuyết Vị lợi (Utilitarianism): Bắt nguồn từ tư tưởng lợi ích chung (civitas maxima) và nguyên tắc "aut dedere aut judicare", xác định nhà nước có nghĩa vụ tối đa hóa lợi ích xã hội và ngăn chặn thiệt hại chung bằng cách phối hợp đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia.
3. Vì sao luận án kiến nghị Việt Nam cần xây dựng một đạo luật riêng về Tương trợ tư pháp hình sự?
Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 điều chỉnh chung cả bốn lĩnh vực (dân sự, hình sự, dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù) dẫn đến quy định bị dàn trải, tản mạn. Nhiều quy định hiện hành đã lạc hậu, chưa bao quát được các hoạt động tương trợ phi truyền thống theo các điều ước quốc tế thế hệ mới (như lấy lời khai qua video-link, điều tra chung, thu hồi tài sản tham nhũng), đồng thời thiếu cơ chế phối hợp và thời hạn cụ thể. Do đó, việc xây dựng một đạo luật độc lập là cần thiết để nội luật hóa đầy đủ các cam kết quốc tế và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
4. Những điều ước quốc tế đa phương và khu vực chủ yếu nào được phân tích trong luận án?
Luận án phân tích hệ thống điều ước quốc tế gồm:
- Cấp độ toàn cầu: Công ước năm 1988 về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hướng thần, Công ước UNTOC năm 2000, Công ước UNCAC năm 2003 và Hiệp định TTTPHS mẫu của Liên hợp quốc năm 1990.
- Cấp độ khu vực: Hiệp định TTTPHS của ASEAN, Công ước châu Âu năm 1959, Nghị định thư sửa đổi năm 1978, Công ước châu Âu năm 2000 và các văn kiện của EU.
- Cấp độ song phương: 26 Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết với các quốc gia.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Đình Công đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng về tương trợ tư pháp hình sự dựa trên lý thuyết Chủ quyền quốc gia và Thuyết Vị lợi. Trên cơ sở phân tích cấu trúc pháp lý quốc tế từ cấp độ toàn cầu, khu vực đến song phương, công trình đã chỉ rõ những bất cập và khoảng trống của pháp luật thực định Việt Nam giai đoạn thi hành Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 đến nay. Các kết quả nghiên cứu và hệ thống kiến nghị của luận án cung cấp luận cứ khoa học có giá trị trực tiếp cho công tác lập pháp, đặc biệt là dự án xây dựng Luật Tương trợ tư pháp hình sự tại Việt Nam.