QUYỀN HIẾN, NHẬN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI VÀ HIẾN, LẤY XÁC THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

Luận án tiến sĩ luật học chuyên sâu về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo pháp luật dân sự Việt Nam. Nghiên cứu toàn diện, sâu sắc.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2024

304
13
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN HIẾN, NHẬN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI VÀ HIẾN, LẤY XÁC

1.1. Lịch sử phát triển của quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác trong pháp luật dân sự Việt Nam

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và những yếu tố tác động đến việc thực hiện quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

1.1.1.1. Khái niệm quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác
1.1.1.2. Đặc điểm quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác
1.1.1.3. Ý nghĩa của việc ghi nhận quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác
1.1.1.4. Những yếu tố tác động đến việc thực hiện quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

1.2. Nội dung pháp luật về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và lấy xác trong pháp luật dân sự Việt Nam

1.2.1. Chủ thể và đối tượng thực hiện quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

1.2.2. Nguyên tắc thực hiện quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

1.2.3. Cơ chế quản lý nhà nước trong hoạt động hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ QUYỀN HIẾN, NHẬN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI VÀ HIẾN, LẤY XÁC

2.1. Quy định chung của pháp luật dân sự điều chỉnh quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

2.1.1. Quy định về điều kiện chủ thể trong hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

2.1.2. Quy định về quyền lợi, chế độ đối với chủ thể hiến, nhận mô, bộ phận cơ người và hiến, lấy xác và thân nhân gia đình người hiến

2.1.3. Quy định về hoạt động hiến máu, quản lý và sử dụng sản phẩm máu

2.1.4. Quy định về thông tin, tuyên truyền trong hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

2.1.5. Quy định đối với cơ quan, tổ chức hỗ trợ việc thực hiện quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

2.1.5.1. Điều kiện đối với cơ sở y tế thực hiện ghép mô, bộ phận cơ thể người
2.1.5.2. Đối với các cơ quan, tổ chức hỗ trợ việc nhận mô, bộ phận cơ thể người và lấy xác

2.1.6. Hoạt động điều phối hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và lấy xác

2.1.7. Quy định về trình tự thực hiện quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

2.1.7.1. Đối với hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống, sau khi chết, hiến xác
2.1.7.2. Lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống, sau khi chết và lấy xác

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT DÂN SỰ VỀ QUYỀN HIẾN, NHẬN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI VÀ HIẾN, LẤY XÁC

3.1. Thực tiễn thực hiện quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác. Thực tiễn thực hiện quy định chung của pháp luật dân sự điều chỉnh quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

3.2. Thực tiễn thực hiện quy định đối với cơ quan, tổ chức hỗ trợ việc thực hiện quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

3.3. Thực tiễn thực hiện quy định về trình tự thực hiện quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

3.4. Thực tiễn giải quyết tranh chấp về quyền hiến, nhận mô bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

3.5. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

3.5.1. Kiến nghị hoàn thiện quy định chung của pháp luật điều chỉnh quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

3.5.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định đối với cơ quan, tổ chức hỗ trợ việc thực hiện quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

3.5.3. Kiến nghị hoàn thiện về trình tự thực hiện quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

3.5.4. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số nội dung khác trong pháp luật dân sự về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NGHIÊN CỨU SINH

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

PHỤ LỤC 2: HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN HIẾN, NHẬN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI VÀ HIẾN, LẤY XÁC

PHỤ LỤC 3: DANH SÁCH BỆNH VIỆN VÀ QUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ Y TẾ VỀ VIỆC CÔNG NHẬN CÁC BỆNH VIỆN ĐỦ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN GHÉP MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI CỦA CÁC BỆNH VIỆN

PHỤ LỤC 4: CƠ SỞ Y TẾ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG MÔBAO GỒM CƠ SỞ LƯU TRỮ NOÃN, TINH TRÙNG, PHÔI, GIÁC MẠC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quyền Hiến Nhận Mô Tạng Pháp Luật Dân Sự VN 55 Ký Tự

Sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực y học và sinh học, đã mang đến những kỳ tích chưa từng có, mở ra cơ hội hồi sinh cho những người bệnh nhờ vào việc hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể. Hoạt động này không chỉ trở nên phổ biến trên toàn thế giới mà còn được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật quốc tế và quốc gia. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và UNESCO đã có những tuyên bố và nghị quyết quan trọng về vấn đề này, nhấn mạnh tính nhân đạo, tự nguyện và bảo vệ quyền con người. Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật liên quan đến hiến, nhận mô, bộ phận cơ thểhiến xác cũng ngày càng hoàn thiện, bao gồm Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác; Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức và vướng mắc trong thực tiễn, đặc biệt là việc đảm bảo sự cân bằng giữa mục đích nhân đạo và các hành vi vi phạm pháp luật, thương mại hóa. Vì vậy, việc nghiên cứu về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thểhiến xác dưới góc độ pháp luật dân sự Việt Nam là vô cùng cần thiết.

1.1. Lịch sử phát triển pháp luật về hiến mô tạng ở VN

Việc hiến, nhận mô, bộ phận cơ thểhiến xác không còn là hiện tượng hiếm gặp mà trở thành một trong số những hoạt động chuyên môn của lĩnh vực y học, giải phẫu học. Hoạt động đó diễn ra ở mọi quốc gia trên thế giới, được điều chỉnh bởi khung pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Với pháp luật quốc tế, việc hiến, nhận mô, bộ phận cơ thểhiến xác được điều chỉnh bởi hai phương diện là các quyền dân sự, chính trị và quyền trong lĩnh vực y học. Việt Nam cũng đang nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật này để phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tế.

1.2. Các tổ chức quốc tế bảo vệ quyền hiến nhận mô tạng

Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã thông qua Nghị quyết về việc phát triển các hoạt động cấy ghép năm 2004. UNNESCO cũng đã thành lập một cơ quan trực tiếp liên quan đến lĩnh vực này là Uỷ ban quốc tế về Đạo đức y sinh. Cơ quan này cũng đã công bố Tuyên bố toàn cầu về đạo đức sinh học và quyền con người, trong đó đưa ra những nguyên tắc chung được thừa nhận rộng rãi nhằm bảo vệ quyền con người như nguyên tắc không được thương mại hoá mô, bộ phận cơ thể người, mô máu, tế bào; nguyên tắc bảo vệ người chưa thành niên và những người được pháp luật bảo hộ; nguyên tắc phải có sự đồng ý của người hiến tặng.

II. Thách Thức Pháp Lý Hiến Nhận Mô Bộ Phận Cơ Thể 58 Ký Tự

Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể, việc hiến, nhận mô, bộ phận cơ thểhiến xác vẫn đối mặt với nhiều thách thức pháp lý. Một trong những vấn đề quan trọng là làm thế nào để đảm bảo sự tự nguyện và đồng thuận thực sự của người hiến, tránh tình trạng ép buộc hoặc lợi dụng. Bên cạnh đó, việc bảo vệ thông tin cá nhân của người hiến và người nhận cũng là một yêu cầu cấp thiết. Vấn đề thương mại hóa mô, tạng cũng cần được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tính minh bạch và công bằng. Ngoài ra, sự khác biệt về quan điểm văn hóa, tôn giáo cũng có thể ảnh hưởng đến quyết định hiến tạng của mỗi người. Cần có những nghiên cứu sâu sắc hơn để hiểu rõ những yếu tố này và đưa ra các giải pháp phù hợp.

2.1. Đảm bảo tính tự nguyện trong hiến mô bộ phận cơ thể

Một trong những vấn đề quan trọng là làm thế nào để đảm bảo sự tự nguyện và đồng thuận thực sự của người hiến, tránh tình trạng ép buộc hoặc lợi dụng. Việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và dễ hiểu cho người hiến là vô cùng quan trọng. Pháp luật cần có những quy định cụ thể để bảo vệ quyền của người hiến và người nhận.

2.2. Chống thương mại hóa hoạt động hiến nhận mô tạng

Vấn đề thương mại hóa mô, tạng cũng cần được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tính minh bạch và công bằng. Các hành vi mua bán mô, tạng cần phải bị nghiêm cấm và xử lý nghiêm minh. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng để ngăn chặn tình trạng này.

2.3. Vấn đề bảo mật thông tin người hiến nhận tạng

Bên cạnh đó, việc bảo vệ thông tin cá nhân của người hiến và người nhận cũng là một yêu cầu cấp thiết. Pháp luật cần có những quy định cụ thể để bảo vệ thông tin này, tránh tình trạng rò rỉ hoặc lạm dụng. Đồng thời, cần có những biện pháp kỹ thuật để đảm bảo an ninh thông tin.

III. Phân Tích Pháp Lý Quyền Hiến Nhận Mô Theo BLDS 2015 57 Ký Tự

Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thểhiến xác. BLDS 2015 quy định về quyền nhân thân, trong đó bao gồm quyền được hiến bộ phận cơ thể, quyền được sống và quyền được bảo vệ sức khỏe. Các quy định này tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện các quyền liên quan đến hiến, nhận mô, bộ phận cơ thểhiến xác. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này trong thực tế vẫn còn nhiều thách thức, đòi hỏi sự hướng dẫn chi tiết và cụ thể hơn từ các văn bản pháp luật chuyên ngành.

3.1. Quyền nhân thân liên quan đến hiến nhận mô tạng

BLDS 2015 quy định về quyền nhân thân, trong đó bao gồm quyền được hiến bộ phận cơ thể, quyền được sống và quyền được bảo vệ sức khỏe. Các quy định này tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện các quyền liên quan đến hiến, nhận mô, bộ phận cơ thểhiến xác. Quyền được sống của một người được bảo vệ ngay cả khi người đó cần mô, bộ phận cơ thể từ người khác.

3.2. Điều kiện thực hiện quyền hiến nhận mô theo BLDS

Việc áp dụng các quy định này trong thực tế vẫn còn nhiều thách thức, đòi hỏi sự hướng dẫn chi tiết và cụ thể hơn từ các văn bản pháp luật chuyên ngành. Các văn bản hướng dẫn cần làm rõ các điều kiện và thủ tục để thực hiện quyền hiến, nhận mô một cách hợp pháp và an toàn.

3.3. Mối quan hệ giữa BLDS và Luật Hiến Lấy Ghép mô tạng

BLDS tạo nền tảng pháp lý chung, trong khi Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 quy định chi tiết hơn về quy trình, thủ tục và các vấn đề chuyên môn liên quan. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa hai văn bản này để đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả trong thực tiễn.

IV. Quy Trình Hiến Tặng Mô Tạng Hướng Dẫn Chi Tiết 53 Ký Tự

Quy trình hiến tặng mô tạng là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều bên liên quan, bao gồm người hiến, người nhận, cơ sở y tế và các cơ quan quản lý nhà nước. Quá trình này bắt đầu từ việc đăng ký hiến tạng, đánh giá sức khỏe của người hiến, tiến hành thủ tục pháp lý, phẫu thuật lấy mô, tạng, bảo quản và vận chuyển, và cuối cùng là ghép mô, tạng cho người nhận. Mỗi giai đoạn đều có những yêu cầu và quy định riêng, cần được tuân thủ nghiêm ngặt để đảm bảo an toàn và hiệu quả. Việc công khai, minh bạch thông tin về quy trình hiến tặng mô tạng là rất quan trọng để tạo niềm tin trong cộng đồng.

4.1. Đăng ký hiến mô tạng Thủ tục và địa điểm thực hiện

Quá trình này bắt đầu từ việc đăng ký hiến tạng. Cần hướng dẫn rõ ràng về thủ tục đăng ký, các giấy tờ cần thiết và địa điểm tiếp nhận đăng ký. Đồng thời, cần tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận thông tin và đăng ký hiến tạng.

4.2. Đánh giá sức khỏe người hiến và các tiêu chí loại trừ

Việc đánh giá sức khỏe của người hiến là vô cùng quan trọng để đảm bảo an toàn cho cả người hiến và người nhận. Cần có những tiêu chí rõ ràng để xác định người nào đủ điều kiện hiến tạng và người nào không. Cần có quy trình kiểm tra sức khỏe kỹ lưỡng và chính xác.

4.3. Các bước trong quy trình lấy bảo quản và ghép mô tạng

Các giai đoạn phẫu thuật lấy mô, tạng, bảo quản và vận chuyển, và cuối cùng là ghép mô, tạng cho người nhận cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình kỹ thuật và đảm bảo điều kiện vô trùng. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở y tế để đảm bảo quá trình diễn ra suôn sẻ và an toàn.

V. Bảo Vệ Quyền Lợi Người Hiến Tặng Pháp Luật Việt Nam 57 Ký Tự

Pháp luật Việt Nam đặc biệt chú trọng đến việc bảo vệ quyền lợi người hiến tặng. Người hiến có quyền được cung cấp thông tin đầy đủ về quy trình hiến tặng, được bảo mật thông tin cá nhân, được tôn trọng nhân phẩm, và được nhận các chế độ hỗ trợ theo quy định. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định về trách nhiệm của các cơ sở y tế và cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi người hiến tặng. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định này trong thực tế vẫn còn nhiều hạn chế, đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ và nâng cao nhận thức của cộng đồng.

5.1. Quyền được cung cấp thông tin và tư vấn pháp lý

Người hiến có quyền được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và dễ hiểu về quy trình hiến tặng, các rủi ro có thể xảy ra và các quyền lợi mà họ được hưởng. Cần có cơ chế tư vấn pháp lý miễn phí cho người hiến để họ hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình.

5.2. Quyền được bảo mật thông tin cá nhân và tôn trọng

Việc bảo mật thông tin cá nhân của người hiến là vô cùng quan trọng. Cần có những quy định cụ thể để bảo vệ thông tin này, tránh tình trạng rò rỉ hoặc lạm dụng. Đồng thời, cần tôn trọng nhân phẩm và quyền riêng tư của người hiến.

5.3. Chế độ hỗ trợ người hiến và thân nhân gia đình

Pháp luật cần quy định rõ ràng về các chế độ hỗ trợ cho người hiến và thân nhân gia đình, bao gồm hỗ trợ chi phí đi lại, ăn ở, và các chi phí khác liên quan đến việc hiến tạng. Cần đảm bảo các chế độ này được thực hiện đầy đủ và kịp thời.

VI. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hiến Nhận Tạng 56 Ký Tự

Để hoàn thiện pháp luật về hiến, nhận mô, bộ phận cơ thểhiến xác, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành để đảm bảo tính thống nhất, minh bạch và phù hợp với thực tiễn. Cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của cộng đồng về ý nghĩa nhân văn của việc hiến tạng. Cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm và nâng cao năng lực trong lĩnh vực này. Đồng thời, cần tăng cường kiểm tra, giám sát để đảm bảo việc thực thi pháp luật được nghiêm minh và hiệu quả.

6.1. Rà soát sửa đổi các quy định pháp luật hiện hành

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành để đảm bảo tính thống nhất, minh bạch và phù hợp với thực tiễn. Cần làm rõ các khái niệm, quy trình và thủ tục liên quan đến hiến, nhận mô, bộ phận cơ thểhiến xác.

6.2. Tăng cường tuyên truyền giáo dục về hiến tạng

Cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của cộng đồng về ý nghĩa nhân văn của việc hiến tạng. Cần sử dụng nhiều hình thức tuyên truyền khác nhau, phù hợp với từng đối tượng và địa bàn.

6.3. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hiến nhận tạng

Cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm và nâng cao năng lực trong lĩnh vực này. Cần tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực liên quan đến hiến, nhận mô, bộ phận cơ thểhiến xác. Cần trao đổi thông tin và kinh nghiệm với các nước tiên tiến.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/05/2025
Luận án tiến sĩ luật học quyền hiến nhận mô bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác theo quy định pháp luật dân sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I là một chương không đầy đủ và không đồng nhất về quan điểm lập pháp đó là tại Điều 6 của Luật quy định về quyền hiến, nhận tinh trùng, noãn, phôi trong thụ tinh nhân tạo, nhưng lại không quy định về ghép tủy, ghép tế bào thân tạo máu, trong khi công nghệ ghép tế bào thân tạo máu trên thế giới đã được quan tâm từ những năm giữa thế kỷ XX như Hoa Kỳ, một số nước châu Âu, Trung Quốc…; Những quy định tại chương II, III, IV của Luật Hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác đã khuyến khích quyền tự do định đoạt ý chí của người hiến mô, BPCT và hiến xác. Ở đây, sự định đoạt ý chí của người hiến mô, 9 BPCT và hiến xác có những đặc điểm riêng biệt so với sự định đoạt ý chí của chủ thể trong các quan hệ pháp luật dân sự thông thường khác. Việc hiến có được thực hiện đầy đủ hay không còn phải thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định. Đồng thời, tác giả cũng nêu lên các điều kiện, hình thức, thủ tục thực hiện quyền hiến mô, BPCT và hiến xác của cá nhân; Thực trạng áp dụng những quy định của pháp luật hiện hành về quyền hiến mô, BPCT và quyền hiến xác của cá nhân, tại phần nội dung này thì tác giả nêu lên những bất cập của luật dẫn đến việc thực tiễn áp dụng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.

Chẳng hạn như tác giả cho rằng nhu cầu cấy ghép mô, tạng ở nước ta rất lớn nên pháp luật đã điều chỉnh nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc cấy ghép mô, tạng và tăng nguồn mô, tạng trong nhân dân, tuy nhiên thì luật vẫn chưa đề cập đến đến vấn đề hiến BPCT, hiến xác của tử tù phục vụ cho việc chữa bệnh và NCKH nên rất khó khăn cho các cơ sở y tế có thể nhận xác trong trường hợp người có án tử hình muốn hiến xác cho y học. + Tác giả Nguyễn Hoàng Phúc trong bài viết "Một số vấn đề bất cập trong hệ thống pháp luật về hiến, ghép mô, BPCT người" đã luận giải rằng, nhìn nhận một cách tổng quát từ năm 2006 đến nay chúng ta đã có một hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động hiến, lấy, ghép mô, BPCT người, hiến, lấy xác tương đối hoàn chỉnh, tạo khung pháp lý quan trọng cho ngành ghép tạng Việt Nam ra đời và phát triển. Tác giả dẫn chứng số liệu thực tiễn tính đến giữa năm 2016 ở nước ta đã có 16 cơ sở y tế có khả năng lấy, ghép mô, tạng hiệu quả và đã tiến hành ghép thành công 1281 ca ghép thận, 54 ca ghép gan, 16 ca ghép tim, 08 ca ghép tủy, 01 ca ghép khối thận tụy, 01 ca ghép tim, đây chính là minh chứng rõ ràng rằng kỹ thuật y học giải phẫu của Việt Nam khá phát triển. Tuy nhiên, thực tế cho thấy số lượng người được ghép mỗi năm vẫn còn hết sức khiêm tốn so với nhu cầu thực tế ngày một tăng cao.

Có nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân quan trọng đó là còn thiếu một hệ thống chính sách, pháp luật đồng bộ, khả thi để tác động, định hướng và thúc đẩy hoạt động hiến, ghép mô,BPCT người. Những VBQPPL tuy đã được ban hành như cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, đó là bất cập quy định về độ tuổi; vấn đề về quyền lợi, chế độ người hiến tặng mô, tạng liên quan đến chế độ BHYT; hình thức đăng ký hiến tặng mô tạng; kiểm tra sức khỏe đối và cấp thẻ đăng ký hiến tặng mô, tạng; điều kiện đối với cơ sở y tế lấy, ghép mô, tạng; điều phối hoạt động hiến, lấy, ghép mô, tạng; chế độ chính sách cho đội ngũ làm công tác điều phối và cuối cùng là việc tổ chức, quản lý, điều hành hoạt động hiến, lấy, ghép tạng. + Tác giả Trần Thị Huệ trong bài viết "Một số bất cập cần được sửa đổi, bổ sung trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác". Bài viết đã được tác giả nghiên cứu rất sâu, trên sơ sở đó nêu lên các bất cập của luật và từ những bất cập này thì việc áp dụng quy định của luật trong thực tiễn lầ rất khó khăn, những luận điểm khoa học tác giả luận giải trong bài viết đã nêu bật được những bất cập rất cụ thể của Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xã.

Bài viết của tác giả có giá trị tham khảo rất cao để NCS tham khảo và tiếp tục triển khai trong phần thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong nội dung của luận án. + Tác giả Bùi Đức Hiển trong bài viết "Quy định về điều kiện hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết", Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số tháng 10/2010. Trong bài viết, tác giả đã luận giải các điều kiện hiến mô, BPCT sau khi chết. Chẳng hạn như điều kiện về năng lực chủ thể, tác giả cho rằng quyền hiến mô, BPCT sau khi chết là một quyền nhân 10 thân quan trọng, mặc dù là quyền nhưng không phải cá nhân nào cũng muốn thực hiện cũng được mà cá nhân đó phải đạt được những điều kiện nhất định, trong đó một điều kiện không thể nói đó là điều kiện về độ tuổi và điều kiện về khả năng nhận thức cũng như điều khiển hành vi.

Điều kiện về độ tuổi là một dấu hiệu định lượng quan trọng để xem xét cá nhân đó có đủ khả năng thực hiện quyền hiến mô, BPCT hay không. Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ở các nước trên thé giới có sự quy định khác nhau về độ tuổi đối với người hiến BPCT khi còn sống, đặc biệt là hiến xác, BPCT sau khi chết. Chẳng hạn như ở Pháp, đủ 13 tuổi trở lên mới có quyền đăng ký từ chối hiến xác, BPCT sau khi chết (tức là sau khi một người chết đi, cơ sở y tế có thẩm quyền sẽ kiểm tra xem người đó có thẻ đăng ký từ chối hiến xác không, nếu không có thì cơ sở y tế có thẩm quyền gián tiếp suy luận là người đó đã đồng ý hiến). Còn ở Việt Nam, Điều 5 của Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006 quy định: "Người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến mô, BPCT của mình khi còn sống, sau khi chết và hiến xác".

Bên cạnh đó, tác giả cũng đã luận giải thêm một số điều kiện khác như điều kiện về trình tự, điều kiện về sức khỏe đối với người hiến, ghép mô, BPCT người. + Tác giả Lê Thiện trong bài viết "Tử tù có quyền được hiến xác cho y học". Tác giả đã luận giải rằng, quyền hiến xác, hiến BPCT là một trong những quyền con người được pháp luật ghi nhận, điều đó được quy định tại khoản 3 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 và Điều 35 BLDS năm 2015 và Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006. Khoản 3 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Mọi người có quyền hiến mô, BPCT và hiến xác theo quy định của luật.

Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất cứ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm". Điều 35 BLDS năm 2015 đã cụ thể hóa khá rõ quyền này đó là: "Cá nhân có quyền hiến mô, BPCT của mình khi còn sống hoặc hiến mô, BPCT, hiến xác của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu y học, dược học và các NCKH khác; Cá nhân có quyền nhận mô, BPCT của người khác để chữa bệnh cho mình. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, pháp nhân có thẩm quyền về NCKH có quyền nhận BPCT người, lấy xác để chữa bệnh, thử nghiệm y học, dược học và các NCKH khác"; Điều 5 Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT và hiến, lấy xác năm 2006 quy định: "Người đủ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến mô, BPCT của mình khi còn sống, sau khi chết, hiến xác". Đối chiếu quy định trên, tác giả luận giải rằng tất cả mọi người đều có quyền hiến mô, BPCT của mình khi còn sống, sau khi chết và hiến xác, không loại trừ bất cứ ai, kể cả tử tù là người đang có án.

Mặc dù hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất - tước đoạt mạng sống của người phạm tội, thế nhưng không đồng nghĩa với việc hạn chế các quyền con người, quyền công dân còn lại của người phạm tội mà điển hình là quyền hiến mô, BPCT và hiến xác; mỗi hình phạt chỉ hạn chế một số quyền của con người chứ không phải tất cả, chẳng hạn như hình phạt tù sẽ hạn chế quyền tự do đi lại, quyền tự do cư trú, lao động… Còn hình phạt tử hình sẽ tước bỏ đi quyền được sống của con người, nhưng quyền sống bị tước bỏ không đồng nghĩa với việc quyền hiến mô, BPCT và hiến xác sau khi chết cũng bị tước bỏ. + Trong bài viết "Hoạt động điều phối trong hiến và ghép tạng: Những khó khăn, thuận lợi và kinh nghiệm tại Bệnh việc Chợ Rẫy", tác giả Dư Thị Ngọc Thu nghiên cứu 11 và tổng hợp trên cơ sở kết quả khảo sát thực tiễn tại bệnh viện Chợ Rẫy, số liệu cụ thể từ tháng 10/2014 - đến ngày 10/9/2019 với kết quả tiếp nhận 11.200 đơn của người đến đăng ký kiến tạng sau khi chết. Tác giả đưa ra bàn luận, việc hiến tạng nhân đạo từ người hiến chết não hay ngừng tim là việc làm nhân đạo trong một xã hội hiện đại, nên yêu cầu mọi hoạt động trong lĩnh vực này phải minh bạch, công bằng, bảo đảm y đức và pháp lý. Tác giả cũng đã việc dẫn thực tiễn đăng ký hiến mô, BPCT người ở Mỹ để so sáng với thực tiễn của Việt Nam.

Ở Mỹ, theo thống kê của UNOS (2019) số trường hợp hiến mô, bộ phận cơ thể người tăng dần lên theo năm, năm 1988 là 4.088 trường hợp, đến năm 2019 tăng lên 10.721 trường hợp. Hệ thống của UNOS hình thành vào năm 1997, hiện đã phát triển vững chắc và có những chương trình đào tạo chuyên nghiệp, hoạt động chuyên sâu với một mục tiêu là làm tăng số lượng người đồng ý hiến tặng mô, BPCT khi chết. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra kết luận về nội dung công trình khoa học của mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ