Chương I là một chương không đầy đủ và không đồng nhất về quan điểm lập pháp đó là tại Điều 6 của Luật quy định về quyền hiến, nhận tinh trùng, noãn, phôi trong thụ tinh nhân tạo, nhưng lại không quy định về ghép tủy, ghép tế bào thân tạo máu, trong khi công nghệ ghép tế bào thân tạo máu trên thế giới đã được quan tâm từ những năm giữa thế kỷ XX như Hoa Kỳ, một số nước châu Âu, Trung Quốc…; Những quy định tại chương II, III, IV của Luật Hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác đã khuyến khích quyền tự do định đoạt ý chí của người hiến mô, BPCT và hiến xác. Ở đây, sự định đoạt ý chí của người hiến mô, 9 BPCT và hiến xác có những đặc điểm riêng biệt so với sự định đoạt ý chí của chủ thể trong các quan hệ pháp luật dân sự thông thường khác. Việc hiến có được thực hiện đầy đủ hay không còn phải thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định. Đồng thời, tác giả cũng nêu lên các điều kiện, hình thức, thủ tục thực hiện quyền hiến mô, BPCT và hiến xác của cá nhân; Thực trạng áp dụng những quy định của pháp luật hiện hành về quyền hiến mô, BPCT và quyền hiến xác của cá nhân, tại phần nội dung này thì tác giả nêu lên những bất cập của luật dẫn đến việc thực tiễn áp dụng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Chẳng hạn như tác giả cho rằng nhu cầu cấy ghép mô, tạng ở nước ta rất lớn nên pháp luật đã điều chỉnh nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc cấy ghép mô, tạng và tăng nguồn mô, tạng trong nhân dân, tuy nhiên thì luật vẫn chưa đề cập đến đến vấn đề hiến BPCT, hiến xác của tử tù phục vụ cho việc chữa bệnh và NCKH nên rất khó khăn cho các cơ sở y tế có thể nhận xác trong trường hợp người có án tử hình muốn hiến xác cho y học. + Tác giả Nguyễn Hoàng Phúc trong bài viết "Một số vấn đề bất cập trong hệ thống pháp luật về hiến, ghép mô, BPCT người" đã luận giải rằng, nhìn nhận một cách tổng quát từ năm 2006 đến nay chúng ta đã có một hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động hiến, lấy, ghép mô, BPCT người, hiến, lấy xác tương đối hoàn chỉnh, tạo khung pháp lý quan trọng cho ngành ghép tạng Việt Nam ra đời và phát triển. Tác giả dẫn chứng số liệu thực tiễn tính đến giữa năm 2016 ở nước ta đã có 16 cơ sở y tế có khả năng lấy, ghép mô, tạng hiệu quả và đã tiến hành ghép thành công 1281 ca ghép thận, 54 ca ghép gan, 16 ca ghép tim, 08 ca ghép tủy, 01 ca ghép khối thận tụy, 01 ca ghép tim, đây chính là minh chứng rõ ràng rằng kỹ thuật y học giải phẫu của Việt Nam khá phát triển. Tuy nhiên, thực tế cho thấy số lượng người được ghép mỗi năm vẫn còn hết sức khiêm tốn so với nhu cầu thực tế ngày một tăng cao.
Có nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân quan trọng đó là còn thiếu một hệ thống chính sách, pháp luật đồng bộ, khả thi để tác động, định hướng và thúc đẩy hoạt động hiến, ghép mô,BPCT người. Những VBQPPL tuy đã được ban hành như cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, đó là bất cập quy định về độ tuổi; vấn đề về quyền lợi, chế độ người hiến tặng mô, tạng liên quan đến chế độ BHYT; hình thức đăng ký hiến tặng mô tạng; kiểm tra sức khỏe đối và cấp thẻ đăng ký hiến tặng mô, tạng; điều kiện đối với cơ sở y tế lấy, ghép mô, tạng; điều phối hoạt động hiến, lấy, ghép mô, tạng; chế độ chính sách cho đội ngũ làm công tác điều phối và cuối cùng là việc tổ chức, quản lý, điều hành hoạt động hiến, lấy, ghép tạng. + Tác giả Trần Thị Huệ trong bài viết "Một số bất cập cần được sửa đổi, bổ sung trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác". Bài viết đã được tác giả nghiên cứu rất sâu, trên sơ sở đó nêu lên các bất cập của luật và từ những bất cập này thì việc áp dụng quy định của luật trong thực tiễn lầ rất khó khăn, những luận điểm khoa học tác giả luận giải trong bài viết đã nêu bật được những bất cập rất cụ thể của Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xã.
Bài viết của tác giả có giá trị tham khảo rất cao để NCS tham khảo và tiếp tục triển khai trong phần thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong nội dung của luận án. + Tác giả Bùi Đức Hiển trong bài viết "Quy định về điều kiện hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết", Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số tháng 10/2010. Trong bài viết, tác giả đã luận giải các điều kiện hiến mô, BPCT sau khi chết. Chẳng hạn như điều kiện về năng lực chủ thể, tác giả cho rằng quyền hiến mô, BPCT sau khi chết là một quyền nhân 10 thân quan trọng, mặc dù là quyền nhưng không phải cá nhân nào cũng muốn thực hiện cũng được mà cá nhân đó phải đạt được những điều kiện nhất định, trong đó một điều kiện không thể nói đó là điều kiện về độ tuổi và điều kiện về khả năng nhận thức cũng như điều khiển hành vi.
Điều kiện về độ tuổi là một dấu hiệu định lượng quan trọng để xem xét cá nhân đó có đủ khả năng thực hiện quyền hiến mô, BPCT hay không. Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ở các nước trên thé giới có sự quy định khác nhau về độ tuổi đối với người hiến BPCT khi còn sống, đặc biệt là hiến xác, BPCT sau khi chết. Chẳng hạn như ở Pháp, đủ 13 tuổi trở lên mới có quyền đăng ký từ chối hiến xác, BPCT sau khi chết (tức là sau khi một người chết đi, cơ sở y tế có thẩm quyền sẽ kiểm tra xem người đó có thẻ đăng ký từ chối hiến xác không, nếu không có thì cơ sở y tế có thẩm quyền gián tiếp suy luận là người đó đã đồng ý hiến). Còn ở Việt Nam, Điều 5 của Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006 quy định: "Người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến mô, BPCT của mình khi còn sống, sau khi chết và hiến xác".
Bên cạnh đó, tác giả cũng đã luận giải thêm một số điều kiện khác như điều kiện về trình tự, điều kiện về sức khỏe đối với người hiến, ghép mô, BPCT người. + Tác giả Lê Thiện trong bài viết "Tử tù có quyền được hiến xác cho y học". Tác giả đã luận giải rằng, quyền hiến xác, hiến BPCT là một trong những quyền con người được pháp luật ghi nhận, điều đó được quy định tại khoản 3 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 và Điều 35 BLDS năm 2015 và Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006. Khoản 3 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Mọi người có quyền hiến mô, BPCT và hiến xác theo quy định của luật.
Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất cứ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm". Điều 35 BLDS năm 2015 đã cụ thể hóa khá rõ quyền này đó là: "Cá nhân có quyền hiến mô, BPCT của mình khi còn sống hoặc hiến mô, BPCT, hiến xác của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu y học, dược học và các NCKH khác; Cá nhân có quyền nhận mô, BPCT của người khác để chữa bệnh cho mình. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, pháp nhân có thẩm quyền về NCKH có quyền nhận BPCT người, lấy xác để chữa bệnh, thử nghiệm y học, dược học và các NCKH khác"; Điều 5 Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT và hiến, lấy xác năm 2006 quy định: "Người đủ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến mô, BPCT của mình khi còn sống, sau khi chết, hiến xác". Đối chiếu quy định trên, tác giả luận giải rằng tất cả mọi người đều có quyền hiến mô, BPCT của mình khi còn sống, sau khi chết và hiến xác, không loại trừ bất cứ ai, kể cả tử tù là người đang có án.
Mặc dù hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất - tước đoạt mạng sống của người phạm tội, thế nhưng không đồng nghĩa với việc hạn chế các quyền con người, quyền công dân còn lại của người phạm tội mà điển hình là quyền hiến mô, BPCT và hiến xác; mỗi hình phạt chỉ hạn chế một số quyền của con người chứ không phải tất cả, chẳng hạn như hình phạt tù sẽ hạn chế quyền tự do đi lại, quyền tự do cư trú, lao động… Còn hình phạt tử hình sẽ tước bỏ đi quyền được sống của con người, nhưng quyền sống bị tước bỏ không đồng nghĩa với việc quyền hiến mô, BPCT và hiến xác sau khi chết cũng bị tước bỏ. + Trong bài viết "Hoạt động điều phối trong hiến và ghép tạng: Những khó khăn, thuận lợi và kinh nghiệm tại Bệnh việc Chợ Rẫy", tác giả Dư Thị Ngọc Thu nghiên cứu 11 và tổng hợp trên cơ sở kết quả khảo sát thực tiễn tại bệnh viện Chợ Rẫy, số liệu cụ thể từ tháng 10/2014 - đến ngày 10/9/2019 với kết quả tiếp nhận 11.200 đơn của người đến đăng ký kiến tạng sau khi chết. Tác giả đưa ra bàn luận, việc hiến tạng nhân đạo từ người hiến chết não hay ngừng tim là việc làm nhân đạo trong một xã hội hiện đại, nên yêu cầu mọi hoạt động trong lĩnh vực này phải minh bạch, công bằng, bảo đảm y đức và pháp lý. Tác giả cũng đã việc dẫn thực tiễn đăng ký hiến mô, BPCT người ở Mỹ để so sáng với thực tiễn của Việt Nam.
Ở Mỹ, theo thống kê của UNOS (2019) số trường hợp hiến mô, bộ phận cơ thể người tăng dần lên theo năm, năm 1988 là 4.088 trường hợp, đến năm 2019 tăng lên 10.721 trường hợp. Hệ thống của UNOS hình thành vào năm 1997, hiện đã phát triển vững chắc và có những chương trình đào tạo chuyên nghiệp, hoạt động chuyên sâu với một mục tiêu là làm tăng số lượng người đồng ý hiến tặng mô, BPCT khi chết. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra kết luận về nội dung công trình khoa học của mình.