Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CHÍNH TRỊ HIẾN ĐỊNH CỦA CÔNG DÂN 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò quyền chính trị hiến định của công dân 1. Khái niệm về quyền chính trị hiến định của công dân Khái niệm công dân được dùng để chỉ mối liên hệ giữa cá nhân và Nhà nước. Có thể định nghĩa rằng: “Công dân là những cá nhân được mang quốc tịch của một Nhà nước sở tại”.
Công dân của một nước được hưởng những quyền nhất định và phải thực hiện nghĩa vụ của mình vói Nhà nước đó. “Công dân là sự xác định một thể nhân về mặt pháp lí thuộc về một nhà nước nhất định”[34]. Nhờ sự xác định này con người được hưởng chủ quyền của nhà nước và được nhà nước bảo hộ quyền lợi khi ở trong nước cũng như ở nước ngoài; đồng thời cũng phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định đối với nhà nước theo khoản 1 Điều 17 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 thì công dân nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Như vậy, khái niệm công dân gắn liền với khái niệm quốc tịch.
Quốc tịch là mối liên hệ bền vững của một thể nhân với một nhà nước nhất định. Quốc tịch Việt Nam là căn cứ duy nhất để xác định một người là công dân Việt Nam. Quyền cơ bản của công dân là các quyền được xác định trong Hiến pháp trên các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa, là cơ sở chủ yếu để xác định địa vị pháp lí của công dân. Trong bất kì nhà nước nào, địa vị pháp lí của công dân được hình thành bởi tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa một bên là xã hội, nhà nước với một bên khác là công dân.
Những quy phạm pháp luật tạo nên địa vị khác nhau, bởi vì địa vị pháp lí của công dân phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nhà nước. Thuật ngữ “chính trị “ có nguồn gốc La-tinh là “politis” mang nghĩa công việc nhà nước. Cụ thể hơn, có thể hiểu chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự 5 luan an tham gia vào công việc của nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước. Khi nhà nước tư sản ra đời, cùng với sự thay đổi về bản chất của nhà nước, theo đó nhà nước không phải là một thế lực thống trị xã hội mà là một tổ chức quyền lực công, được người dân trao cho quyền lực để ban hành ra pháp luật và quản lý đất nước, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân.
Quan điểm triết học hiện đại cho rằng quyền lực chính trị xuất phát từ dân chúng, nó được tạo lập để phục vụ xã hội. Chính trị là nghệ thuật hay khoa học vận hành và quản lý xã hội bằng quyền lực Nhà nước. Việc quản lý xã hội này phải tuân thủ theo quy định của pháp luật và chịu sự giám sát của người dân. Hiểu theo nghĩa rộng thì chính trị là hoạt động của con người nhằm làm ra, giữ gìn và điều chỉnh những luật lệ chung và chịu sự điều chỉnh trực tiếp của những luật lệ chung ấy.
Theo từ điển bách khoa toàn thư mở wikipedia thì chính trị là “toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước…. Quan điểm khác cho rằng chính trị là “những vấn đề về tổ chức và điều khiển bộ máy nhà nước, hoặc những hoạt động của một giai cấp, một chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy nhà nước”[1]. Bản chất của quyền chính trị là quyền tổ chức và điều khiển hoạt động của bộ máy nhà nước của người dân. Nói cách khác, quyền chính trị thực chất là quyền của người dân được tham gia vào việc quản lý nhà nước, tham gia vào các công việc của chính phủ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Quyền chính trị là một lớp các quyền bảo vệ tự do cá nhân khỏi sự xâm phạm không có cơ sở của chính phủ và các tổ chức tư nhân, và đảm bảo của một người khả năng tham gia vào đời sống dân sự và chính trị của nhà nước không phân biệt hay đàn áp. Quyền chính trị là quyền cơ bản nhất của con người, là những quyền tự nhiên, vốn có của con người, được pháp luật ghi nhận, điều chỉnh và là cơ sở để các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và quyền phát triển được thực hiện. 6 luan an Như vậy quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong lĩnh vực chính trị là quyền và nghĩa vụ của công dân tham gia vào các công việc quản lí nhà nước. Đó là các quyền tự do bầu cử, ứng cử, quyền khiếu nại, tố cáo, tham gia đóng góp ý kiến vào các công việc của Nhà nước.
Những quyền chính trị được Hiến pháp ghi nhận còn được gọi là quyền hiến định về chính trị của công dân. Như vậy quyền chính trị hiến định của công dân là các quyền về chính trị được ghi nhận trong Hiến pháp, từ những quyền này, công dân có cơ sở để thực hiện quyền làm chủ của mình trong tham gia các hoạt động quản lý Nhà nước, góp phần củng cố, bảo vệ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Đặc điểm của quyền chính trị hiến định của công dân Thứ nhất, Xét về nguồn gốc, quyền chính trị ra đời sớm hơn quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Đặc biệt, quyền được sống trong sự tôn trọng phẩm giá, được làm người theo đúng nghĩa luôn trở thành vấn đề mang tính lịch sử.
Ngay từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ, nhiều cuộc khởi nghĩa của nô lệ chống chính quyền thì mục đích chính cũng nhằm giành lại quyền làm người mà giai cấp chủ nô đã tước đoạt của nô lệ. Vấn đề quyền lợi kinh tế không phải là mục tiêu hàng đầu của các cuộc khởi nghĩa này. Thứ hai, các quyền hiến định về chính trị của công dân được xác lập trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác- Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về các quyền dân tộc cơ bản là độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, tự do, dân chủ, bình đẳng, hạnh phúc. Thứ ba, những quyền chính trị hiến định của công dân là một loại quyền lực đặc biệt, gắn với quyền lực nhà nước được quy định và đảm bảo thực hiện cùng với lịch sử lập nước, giành, giữ vào xây dựng bảo vệ nhà nước.
Quyền chính trị hiến định của công dân có những thay đổi quy định phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử. Thứ tư, các quyền hiến định về chính trị của công dân được xác lập đồng thời với các quyền hiến định khác của công dân, góp phần tạo nên một hệ thống thống nhất các quyền hiến định của công dân Việt Nam về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội. 7 luan an Thứ năm, các quyền hiến định về chính trị của công dân ngày càng được mở rộng, phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới của cách mạng và với trình độ phát triển kinh tế,chính trị, tư tưởng, văn hóa và dân trí của xã hội. Thứ sáu, quyền chính trị hiến định của công dân là những quyền dễ thực hiện hơn các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và chúng có thể được công nhận về mặt pháp lý và được áp dụng ngay lập tức sau khi phê chuẩn Công ước, chúng ít phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Do điều kiện kinh tế ở mỗi quốc gia khác nhau, nên khả năng hiện thực hóa sự hưởng thụ các quyền này ở các quốc gia cũng khác nhau. Vai trò của quyền chính trị hiến định của công dân Xét trong bối cảnh lịch sử tư tưởng, lịch sử đấu tranh bảo vệ nhân quyền thì nhiều quyền chính trị được nhắc đến đồng thời với quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Ví dụ, trong các bộ luật cổ xưa như Bộ luật Hammurabi, luật Manu hay trong kinh thánh, kinh Koran, kinh phật. quyền sở hữu (quyền dân sự) của cá nhân được bảo vệ nhưng đồng thời, quyền của những người yếu thế trong xã hội (mẹ góa con côi, người già cả) cũng được ghi nhận.
Mặc dù có vị trí ngang nhau, nhưng các quyền chính trị có các vai trò sau: Là “thước đo” cho mức độ dân chủ của một quốc gia; nội dung các quyền thể hiện sự ghi nhận của một quốc gia trong việc tôn trọng quyền công dân; có mục đích đảm bảo cho con người có quyền tham gia đầy đủ vào đời sống dân sự, chính trị của nhà nước mà không bị phân biệt đối xử và đàn áp; bảo vệ các quyền tự do của con người, chống lại những hành vi xâm phạm không có lý do chính đáng từ phía chính phủ hoặc các tổ chức khác. Nội dung các quyền chính trị của công dân trong hệ thống các quyền được Hiến pháp ghi nhận 1. Các quyền chính trị trong Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948 (UDHR) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhưng do đây chỉ là một bản “tuyên ngôn”, mang tính chất khuyến nghị nên không có hiệu lực 8 luan an pháp lý ràng buộc với các quốc gia. Sự thực thi phụ thuộc hoàn toàn vào ý thức của các nước thành viên Liên hiệp quốc.
Chính vì vậy, cần thiết phải chuyển tải các nội dung của Tuyên ngôn sang hình thức Công ước quốc tế có giá trị bắt buộc các quốc gia ký kết, phê chuẩn phải tuân theo trở thành vấn đề cấp thiết được nhiều nước ủng hộ. Tại mục E, Nghị Quyết số 421 của Đại hội đồng Liên hiệp quốc ngày 4 tháng 12 năm 1950 đã tái khẳng định sự cần thiết phải bổ sung các quyền dân sự, chính trị với các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội.