Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống quan hệ gia đình, quan hệ giữa cha mẹ và con là mối quan hệ huyết thống và nuôi dưỡng thiêng liêng, đặt nền tảng cho các quan hệ xã hội khác. Quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng có thể chấm dứt bằng bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật của Tòa án, nhưng nghĩa vụ và trách nhiệm của cha mẹ đối với con chung không bị bãi bỏ. Con chưa thành niên là nhóm đối tượng công dân đặc thù, yếu thế, luôn được pháp luật quốc tế và quốc gia ưu tiên bảo vệ. Quyền được cấp dưỡng của con đóng vai trò duy trì sự phát triển bình thường về vật chất và tinh thần khi không thể cùng lúc nhận được sự chăm sóc trực tiếp của cả cha và mẹ.
Về mặt thực tiễn, số lượng các vụ án ly hôn gia tăng đáng kể trong những năm gần đây kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của các yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng. Tuy nhiên, tình trạng cha hoặc mẹ trốn tránh, từ chối hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng diễn ra phổ biến, gây nhiều hệ lụy cho trẻ em. Nguyên nhân xuất phát từ những khoảng trống, sự thiếu đồng bộ trong quy định pháp luật cũng như những vướng mắc trong khâu tổ chức xét xử tại Tòa án và khâu thi hành án dân sự.
Về mặt lý luận, các công trình khoa học luật học trước đây phần lớn chỉ tiếp cận chế định cấp dưỡng như một phần hậu quả pháp lý của ly hôn hoặc xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng nói chung giữa các thành viên gia đình, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, bao quát và hệ thống về quyền được cha mẹ cấp dưỡng của con trong các trường hợp khác ngoài ly hôn.
Khóa luận tốt nghiệp "Quyền được cấp dưỡng của con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" do sinh viên Cao Thị Thùy Dương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Phương Lan tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023) được triển khai nhằm giải quyết toàn diện vấn đề pháp lý này.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quyền được cấp dưỡng của con trong quan hệ với cha, mẹ; phân tích các quy định hiện hành nhằm chỉ ra những điểm hợp lý và bất cập; đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tiễn xét xử của Tòa án; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2014.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm 4 nội dung cụ thể:
- Phân tích những vấn đề lý luận liên quan đến quyền được cấp dưỡng của con trong mối quan hệ với cha, mẹ.
- Phân tích quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 về quyền của con được cha, mẹ cấp dưỡng qua các trường hợp luật định, đồng thời xác định các điểm bất cập, hạn chế.
- Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về việc thực thi quyền được cấp dưỡng của con trong các trường hợp theo Luật HN&GĐ năm 2014 qua các vụ việc, bản án xét xử cụ thể tại Tòa án nhân dân.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả bảo đảm quyền được cấp dưỡng của con theo Luật HN&GĐ năm 2014.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận, quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn giải quyết quyền được cấp dưỡng của con thông qua các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân từ thời điểm luật có hiệu lực, không xem xét các trường hợp cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa. Khung pháp lý và cơ sở lý thuyết được tác giả khai thác bao gồm:
-
Văn bản pháp luật quốc tế và trong nước:
- Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (Lời mở đầu, Điều 6 khoản 1, Điều 27 khoản 2).
- Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 sửa đổi 2001 và Hiến pháp năm 2013 - Điều 37).
- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (Chương VII; Điều 3 các khoản 10, 21, 24; Điều 8; Điều 12; Điều 14; Điều 15; Điều 68; Điều 70; Điều 71, 72; Điều 78; Điều 85; Điều 87; Điều 88; Điều 93; Điều 101; Điều 107; Điều 110; Điều 116; Điều 117; Điều 118; Điều 119) và Luật HN&GĐ năm 2000.
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 105 về tài sản; các quy định về năng lực hành vi và người chưa thành niên).
- Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 186 về Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng; Điều 380).
- Luật Nuôi con nuôi năm 2010 (Điều 8, Điều 14).
- Luật Trẻ em năm 2016 (sửa đổi, bổ sung năm 2018).
- Luật Hộ tịch năm 2014 (Điều 3, 7, 24, 25).
- Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2018, 2020, 2022 - Điều 78).
- Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn về tiêu chí mất khả năng lao động.
- Nghị định số 144/2021/NĐ-CP (Điều 57), Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (Điều 64), Nghị định số 126/2014/NĐ-CP (Điều 9, 11).
-
Công trình nghiên cứu tiền bối: Luận án tiến sĩ luật học năm 2006 của TS. Ngô Thị Hường; các công trình bình luận khoa học của TS. Nguyễn Ngọc Điện, TS. Nguyễn Văn Cừ, TS. Đinh Thị Mỹ Phương, TS. Nguyễn Thị Chi, TS. Lê Vĩnh Châu; các luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hải (2011), Trần Phương Mai (2018), Hoàng Thị Huệ (2018), Đào Thị Thúy Hằng (2020), Đỗ Thị Hoa (2022), Lăng Thị Minh Huệ (2022); các bài viết trên Tạp chí TAND, Tạp chí Luật sư Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng bao gồm:
- Phương pháp lịch sử: Phân tích sự hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật về cấp dưỡng qua các thời kỳ.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Mổ xẻ các điều luật, quan điểm học thuật và tổng hợp đề xuất hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền cấp dưỡng.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 với Luật HN&GĐ năm 2000 và các quy chuẩn quốc tế.
- Phương pháp thống kê: Tập hợp và phân tích dữ liệu thực tế xét xử từ TAND Tối cao, TAND tỉnh Quảng Bình, TAND TP. Vũng Tàu và số liệu lao động của Hội Người khuyết tật TP. Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền được cấp dưỡng của con
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận, hệ thống hóa khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và căn cứ xác lập quyền được cấp dưỡng của con:
-
Khái niệm cấp dưỡng và quyền được cấp dưỡng của con:
- Cấp dưỡng dưới góc độ ngôn ngữ là việc cung cấp các nhu cầu cần thiết cho cuộc sống của người không cùng chung sống. Dưới góc độ pháp lý (khoản 24 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014), cấp dưỡng là nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng khi họ không sống chung và không có khả năng tự nuôi mình.
- Quyền được cấp dưỡng của con được xác định là quyền tài sản gắn liền với nhân thân của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, đòi hỏi người cha, người mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng phải chuyển giao tài sản nhằm bảo đảm điều kiện sống tối thiểu.
-
Đặc điểm pháp lý của quyền được cấp dưỡng của con: Tác giả xác lập 6 đặc điểm bản chất:
- Phát sinh trên cơ sở quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng (kể cả trường hợp mang thai hộ, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và con nuôi).
- Người con và người có nghĩa vụ cấp dưỡng không cùng chung sống (hoặc cùng sống chung nhưng cha mẹ trốn tránh trách nhiệm nuôi dưỡng).
- Được bảo đảm lâu dài và không ấn định cứng nhắc khoảng thời gian chấm dứt trước khi có căn cứ luật định.
- Tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào tình trạng quan hệ hôn nhân giữa cha và mẹ.
- Phát sinh ngay cả trong thời gian cha, mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.
- Là quyền luật định, được cưỡng chế thực hiện bằng quyền lực nhà nước, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay sự thỏa thuận tước bỏ của cha mẹ; có thể tiếp tục phát sinh kể cả sau khi đã thực hiện phương thức cấp dưỡng một lần nếu hoàn cảnh con rơi vào tình trạng khó khăn đặc biệt.
-
Ý nghĩa và cơ sở quy định: Khẳng định trách nhiệm nuôi dưỡng của cha mẹ; phản ánh truyền thống đạo đức dân tộc; bảo vệ đối tượng yếu thế. Cơ sở pháp lý và xã hội dựa trên: (i) Bảo đảm quyền sống và quyền phát triển lành mạnh của trẻ em theo Công ước quốc tế và Hiến pháp; (ii) Bảo đảm các quyền cơ bản khác như học tập, chăm sóc y tế, giáo dục; (iii) Bảo đảm tính bình đẳng trong quan hệ nuôi dưỡng; (iv) Phục vụ lợi ích chung của gia đình, Nhà nước và phát triển nguồn nhân lực xã hội.
Chương 2: Quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành về quyền được cấp dưỡng của con
Chương 2 phân tích chuyên sâu các quy phạm thực định của Luật HN&GĐ năm 2014 điều chỉnh quyền được cấp dưỡng của con:
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền được cấp dưỡng của con và một số kiến nghị hoàn thiện
Chương 3 trình bày thực trạng giải quyết tranh chấp cấp dưỡng tại Tòa án và các vướng mắc trong khâu thi hành:
-
Thực trạng xét xử và thống kê:
- Số vụ án hôn nhân và gia đình chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số án dân sự TAND thụ lý hàng năm.
- Việc xác định mức cấp dưỡng của Tòa án trong nhiều bản án chưa bám sát mức độ trượt giá và nhu cầu thiết yếu thực tế của con.
- Việc thi hành án cấp dưỡng gặp khó khăn do người phải thi hành án cố tình che giấu thu nhập, tẩu tán tài sản hoặc thiếu sự phối hợp của đơn vị sử dụng lao động trong việc khấu trừ lương.
-
Vướng mắc pháp lý và thực tiễn:
- Chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể thế nào là "nhu cầu thiết yếu" và chưa có khung mức cấp dưỡng tối thiểu cụ thể căn cứ trên mức lương cơ sở hoặc mức lương tối thiểu vùng.
- Khái niệm "không có khả năng lao động" đối với con đã thành niên chưa được quy định thống nhất trong văn bản quy phạm pháp luật hôn nhân gia đình mà phải áp dụng tương tự quy định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Thời điểm bắt đầu phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng chưa được luật hóa cụ thể, dẫn đến cách tuyên án không thống nhất giữa các Tòa án địa phương (tính từ ngày ly thân hay ngày bản án có hiệu lực).
-
Đề xuất và kiến nghị hoàn thiện:
- Về lập pháp: Bổ sung quy định về mức cấp dưỡng tối thiểu theo tỷ lệ phần trăm thu nhập hoặc theo mức lương cơ sở; quy định rõ ràng thời điểm bắt đầu tính nghĩa vụ cấp dưỡng; xây dựng tiêu chí định lượng về "không có khả năng lao động".
- Về tổ chức thực hiện: Tăng cường cơ chế cưỡng chế khấu trừ tài khoản ngân hàng và thu nhập tại nguồn; nâng cao vai trò giám sát, bảo vệ của tổ chức Hội Phụ nữ và cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; đẩy mạnh giáo dục ý thức trách nhiệm gia đình của cha mẹ sau ly hôn.
Kết quả và đóng góp
Bảng tổng hợp số liệu thực tiễn được trích xuất từ văn bản
| Chỉ số / Địa bàn |
Dữ liệu thống kê |
Đơn vị tính / Tỷ lệ |
Nguồn trích dẫn trong khóa luận |
| Quy mô ly hôn cả nước |
60.000 |
Vụ/năm (chiếm 0,75 vụ/1.000 dân) |
Thống kê của TAND Tối cao |
| Tỷ lệ ly hôn / kết hôn cả nước |
25% |
Cứ 4 cặp kết hôn có 1 cặp ly hôn |
Báo Pháp luật Việt Nam điện tử (2023) |
| TAND tỉnh Quảng Bình (9 tháng đầu năm 2023) |
1.600 nộp đơn; 1.575 đã giải quyết; 93 đang xử lý |
Vụ án ly hôn |
Báo Dân trí (11/09/2023) |
| TAND TP. Vũng Tàu (Năm 2021) |
1.020 |
Vụ việc HN&GĐ thụ lý |
Thống kê kiểm sát xét xử HN&GĐ |
| TAND TP. Vũng Tàu (Năm 2022) |
1.325 |
Vụ việc HN&GĐ thụ lý |
Thống kê kiểm sát xét xử HN&GĐ |
| TAND TP. Vũng Tàu (6 tháng đầu năm 2023) |
615 |
Vụ việc HN&GĐ thụ lý |
Thống kê kiểm sát xét xử HN&GĐ |
| Lao động là người khuyết tật TP. Hà Nội |
Hơn 30% |
Tỷ lệ có việc làm, thu nhập ổn định |
Hội Người khuyết tật TP. Hà Nội |
| Lao động là người khuyết tật cả nước |
Khoảng 30% |
Tỷ lệ có việc làm |
Thống kê thị trường lao động |
| Khấu trừ thu nhập tối đa khi thi hành án |
30% |
Tổng số tiền lương/thu nhập nhận hàng tháng |
Điều 78 Luật Thi hành án dân sự |
| Mức xử phạt VPHC trốn tránh cấp dưỡng |
5.000.000 - 10.000.000 |
Đồng |
Nghị định 144/2021/NĐ-CP; NĐ 82/2020/NĐ-CP |
| Thời hạn Tòa án hạn chế quyền cha mẹ |
Từ 01 đến 05 |
Năm |
Khoản 3 Điều 85 Luật HN&GĐ 2014 |
| Thời hạn đăng ký nhận cha mẹ con (UBND xã) |
03 |
Ngày làm việc |
Khoản 2 Điều 25 Luật Hộ tịch 2014 |
Kết quả và giải pháp đề xuất
- Hệ thống hóa toàn diện các trường hợp phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng theo Luật HN&GĐ 2014, vượt ra ngoài phạm vi vụ án ly hôn thông thường để bao quát trường hợp hủy kết hôn trái pháp luật, xác định cha mẹ bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản/mang thai hộ, cha mẹ trốn tránh nuôi dưỡng và cha mẹ bị hạn chế quyền.
- Đề xuất quy định khung sàn mức cấp dưỡng tối thiểu gắn liền với mức lương cơ sở nhằm loại bỏ sự tùy nghi trong phán quyết của Tòa án.
- Đề xuất cơ chế liên thông giữa Tòa án, Cơ quan Thi hành án dân sự và Kho bạc/Ngân hàng/Tổ chức sử dụng lao động để bảo đảm tính khả thi của biện pháp khấu trừ 30% thu nhập tại nguồn.
Đóng góp về mặt khoa học
Công trình khắc phục tính rời rạc của các nghiên cứu trước đây bằng cách xây dựng một hệ thống lý luận tập trung chuyên biệt vào quyền lợi của người con trong quan hệ cấp dưỡng, chỉ rõ mối liên hệ giữa các chuẩn mực quyền con người quốc tế với hệ thống quy phạm pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế của đề tài:
- Phạm vi nghiên cứu của khóa luận được giới hạn trong khuôn khổ quan hệ pháp luật quốc nội theo Luật HN&GĐ năm 2014, không nghiên cứu, khảo sát các trường hợp cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài (người có nghĩa vụ hoặc người được cấp dưỡng cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài cấp dưỡng cho con tại Việt Nam).
- Số liệu thực tiễn xét xử và thi hành án mới chỉ tập trung khai thác tại một số địa phương cụ thể (TAND tỉnh Quảng Bình, TAND TP. Vũng Tàu, TAND tỉnh An Giang) và các số liệu tổng hợp chung của TAND Tối cao, chưa thực hiện khảo sát định lượng trên diện rộng ở tất cả các vùng kinh tế - xã hội.
-
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu chế định cấp dưỡng cho con trong các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo tư pháp quốc tế.
- Nghiên cứu so sánh pháp luật chuyên sâu về cơ chế xác định thu nhập, quỹ hỗ trợ cấp dưỡng tạm thời của Nhà nước cho trẻ em khi cha mẹ trốn tránh nghĩa vụ từ kinh nghiệm của các quốc gia phát triển.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận tốt nghiệp này có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên khảo phục vụ học tập, nghiên cứu môn Luật Hôn nhân và Gia đình, kỹ năng giải quyết án hôn nhân gia đình và viết khóa luận, luận văn.
- Cán bộ tư pháp, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư: Tham khảo khung phân tích 5 trường hợp phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng, căn cứ xác định mức cấp dưỡng (nhu cầu thiết yếu và khả năng tài chính thực tế), cùng các điều luật viện dẫn áp dụng trong thực tiễn tranh tụng và xét xử.
- Chấp hành viên cơ quan Thi hành án dân sự và cán bộ bảo vệ trẻ em: Tham khảo hệ thống chế tài hành chính, dân sự, hình sự và cơ chế khấu trừ thu nhập 30% để áp dụng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho con chưa thành niên.
Phần nội dung đáng tham khảo nhất trong công trình là mục phân tích chi tiết 5 trường hợp phát sinh quyền cấp dưỡng tại Chương 2 và các căn cứ xác định, điều chỉnh mức cấp dưỡng kèm các chế tài bảo đảm thực thi.
Câu hỏi thường gặp
1. Quyền được cấp dưỡng của con theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 phát sinh trong những trường hợp cụ thể nào?
Theo phân tích tại Chương 2 của khóa luận, quyền được cấp dưỡng của con phát sinh trong 5 trường hợp luật định:
- Cha mẹ ly hôn (Điều 110).
- Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng đối với trường hợp nam nữ chung sống không đăng ký (Điều 12, Điều 14, Điều 15).
- Xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ (Điều 88, Điều 93, Điều 101).
- Cha mẹ trốn tránh trách nhiệm nuôi dưỡng dù có đủ điều kiện kinh tế (khoản 2 Điều 107).
- Cha mẹ bị Tòa án áp dụng biện pháp hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên (Điều 85, Điều 87).
2. Tiêu chuẩn nào được sử dụng để xác định con đã thành niên "không có khả năng lao động" và "không có tài sản để tự nuôi mình"?
Do Luật HN&GĐ 2014 chưa định nghĩa trực tiếp, khóa luận vận dụng tương tự pháp luật:
- Không có khả năng lao động: Căn cứ Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, người mất khả năng lao động là người bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 61% trở lên, bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, tâm thần, mất trí hoặc tàn tật nặng cần có người chăm sóc thường xuyên.
- Không có tài sản để tự nuôi mình: Căn cứ khoản 2 Điều 105 BLDS 2015, là người không sở hữu tiền, nhà đất, giấy tờ có giá, hoặc có tài sản/thu nhập nhưng không đủ để chi trả các chi phí sinh hoạt tối thiểu của cuộc sống.
3. Pháp luật quy định những chế tài và biện pháp bảo đảm nào để xử lý hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ?
Khóa luận hệ thống hóa 4 biện pháp bảo đảm và chế tài pháp lý:
- Quyền yêu cầu Tòa án cưỡng chế: Mở rộng cho cá nhân, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em và Hội Liên hiệp Phụ nữ (Điều 119 Luật HN&GĐ).
- Khấu trừ vào thu nhập: Trừ tối đa 30% tổng thu nhập hàng tháng của người phải thi hành án theo Điều 78 Luật Thi hành án dân sự.
- Xử phạt vi phạm hành chính: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo Điều 57 Nghị định 144/2021/NĐ-CP và Điều 64 Nghị định 82/2020/NĐ-CP.
- Xử lý hình sự: Phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm về Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng theo Điều 186 Bộ luật Hình sự năm 2015.
4. Quyền được cấp dưỡng của con chấm dứt trong các trường hợp nào theo Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014?
Quyền được cấp dưỡng của con chấm dứt khi thuộc một trong 4 căn cứ:
- Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
- Người được cấp dưỡng được người khác nhận làm con nuôi hợp pháp theo Luật Nuôi con nuôi (Điều 78).
- Người có nghĩa vụ cấp dưỡng đã trực tiếp đứng ra nuôi dưỡng con.
- Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết.
5. Khóa luận dẫn chứng các số liệu thống kê thực tế nào về tình trạng ly hôn và tranh chấp hôn nhân gia đình?
Các số liệu cụ thể được tác giả trích dẫn từ nguồn dữ liệu chính thức:
- Toàn quốc có khoảng 60.000 vụ ly hôn mỗi năm (tương đương 0,75 vụ/1.000 dân); tỷ lệ ly hôn/kết hôn đạt 25% (cứ 4 cặp kết hôn thì có 1 cặp ly hôn).
- TAND tỉnh Quảng Bình trong 9 tháng đầu năm 2023 tiếp nhận hơn 1.600 đơn ly hôn và đã giải quyết 1.575 vụ.
- TAND TP. Vũng Tàu thụ lý 1.020 vụ việc HN&GĐ năm 2021; 1.325 vụ việc năm 2022; và 615 vụ việc trong 6 tháng đầu năm 2023.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Cao Thị Thùy Dương đã giải quyết một cách có hệ thống cả phương diện lý luận và thực tiễn về quyền được cấp dưỡng của con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tác giả đã làm rõ bản chất pháp lý, phân loại toàn diện 5 trường hợp phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng, đồng thời phân tích sâu sắc các căn cứ xác định mức cấp dưỡng và hệ thống chế tài bảo đảm thi hành án. Công trình cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao cho sinh viên ngành luật, các nhà nghiên cứu và đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng trong công tác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em.