Lời mở đầu của Quy chế Rome có đoạn viết: Vì mục đích này và hạnh phúc của các thế hệ hiện tại và tương lai, thành lập một Tòa án hình sự quốc tế thường trực, độc lập. Định hướng đó là cơ sở cho tất cả các quy phạm của Quy chế Rome 12 và là phương châm hoạt động trong quá trình giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án. Tính chất độc lập của ICC được thể hiện trong các mối quan hệ sau: Độc lập trong mối quan hệ với Liên hợp quốc: ICC có tư cách pháp nhân quốc tế, có năng lực pháp lý cần thiết để thực hiện các chức năng và hoàn thành mục tiêu của mình. ICC không chịu sự chi phối và điều hành của Liên hợp quốc mà chỉ quan hệ với Liên hợp quốc thông qua thỏa thuận hợp tác.
Độc lập với Tòa án hình sự quốc tế khác: ICC là thiết chế tư pháp hình sự do các quốc gia thành viên lập ra có vị trí độc lập không những với Liên hợp quốc mà còn đối với các Tòa án hình sự Ad hoc do Liên hợp quốc lập ra như Tòa án Nam Tư (cũ), Tòa Ruanđa, Tòa án Campuchia. Những tòa án này có thẩm quyền riêng biệt được quy định trong quy chế thành lập do Liên hợp quốc ban hành nên độc lập về tư pháp đối với ICC. Độc lập với các quốc gia thành viên: Mặc dù đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ của các quốc gia thành viên trong quá trình thực hiện quyền tài phán của mình nhưng ICC độc lập với quốc gia thành viên, được thể hiện: + ICC tôn trọng chủ quyền của các quốc gia thành viên ; + ICC không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia thành viên ; + Những tội phạm thuộc thẩm quyền của ICC thì các quốc gia thành viên phải tự thực hiện việc truy tố, xét xử. Những phán quyết của các quốc gia thành viên đối với 04 loại tội phạm được quy định trong Quy chế Rome thì ICC không có quyền can thiệp.
ICC chỉ thực hiện quyền tài phán của mình khi quốc gia thành viên không muốn hoặc không có khả năng thực hiện quyền tài phán của mình. Tính chất tự nguyên của ICC ICC được thành lập bởi 1 điều ước quốc tế (Quy chế Roma) dựa trên sự tự nguyện của các quốc gia sau quá trình bàn thảo tại Hội nghị thành lập. Trên tinh thần đó, các quy định của Quy chế Roma không trói buộc các quốc gia trừ khi các quốc gia chấp nhận tham gia quy chế, tự nguyện gánh vác trách nhiệm quốc tế. Đây cũng là một đặc điểm quan trọng để phân biệt ICC với các Tòa án hình sự quốc tế khác.
Tính chất hợp tác chặt chẽ với các quốc gia, các tổ chức trong hoạt động của ICC Để thực sự hiệu quả, ICC cần đến sự hợp tác chặt chẽ với các bên có liên quan, bao gồm các quốc gia, các tổ chức quốc tế, khu vực liên chính phủ và phi chính phủ. Tòa án không có lực lượng cảnh sát riêng để thực thi các quyết định và phán quyết của mình như các quốc gia hoặc có lực lượng riêng để tiến hành như các Tòa án Adhoc do Liên hợp quốc thành lập. Do vậy, Tòa án yêu cầu sự hợp tác của các quốc gia trong nhiều lĩnh vực, bao gồm thu thập chứng cứ, bắt giữ, giao nộp các tội phạm và thực thi các bản án của mình. Quy chế cũng định ra những nghĩa vụ cụ thể đối với các quốc gia thành viên trong việc hợp tác với Tòa án.
Thẩm quyền bổ sung của ICC ICC không phải là cấp trên của Tòa án quốc gia và cũng không phải là Tòa phúc thẩm. ICC không có thẩm quyền bác bỏ hay xem xét lại của bất kỳ Tòa án quốc gia nào và cũng không có thẩm quyền vượt trội hơn Tòa án quốc gia. Quy chế đã quy định rằng các quốc gia có trách nhiệm hàng đầu trong việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với các tội phạm thuộc thẩm quyền của ICC mà họ tự nguyện tham gia trừ khi họ không muốn hoặc không có khả năng thực hiện quyền tài phán đối với các tội phạm đó. Nhiều quốc gia đã cho rằng, sự quy định về thẩm quyền bổ sung là sự bảo đảm đầy đủ nhất về việc Tòa án hình sự quốc tế không xâm phạm đến chủ quyền quốc gia.
Đây là điểm khác biệt quan trọng so với các Tòa án hình sự khác. Vai trò, ý nghĩa của Tòa án Hình sự quốc tế Tòa án Hình sự quốc tế theo Quy chế Rome ra đời không những đáp ứng đươ ̣c yêu cầ u cấ p thi ết của việc ngăn chặn xung đột , bảo vệ hòa bình , an ninh quố c tế mà còn thực thi trách nhiê ̣m đó mô ̣t cách có hiê ̣u quả với mô ̣t nề n tư pháp công bằ ng, khách quan mang lại niềm tin cho nhân loại. Tính ưu việt này đã khẳng đị nh vai trò, ý nghĩa của Tòa án hình sự quốc tế trong đời sống chính trị quốc tế. Tòa án Hình sự quốc tế góp phần trừng trị và ngăn ngừa tội phạm quố c tế Quy chế Rome về Tòa án Hình sự quố c tế ra đời và hiǹ h thành trong bố i cảnh: 14 “hàng triê ̣u trẻ em, phụ nữ và nam giới đã trở thành nạn nhân của những hành động tàn ác chưa từng thấy, gây chấ n động lương tri nhân loại… các tội ác đó đe dọa hòa bình và an ninh thế giới…” [13] và Quy chế cũng đặt ra trách nhiệm cho Tòa án Hình sự quố c tế: “các tội ác đó phải bi ̣ trừng tri ̣ và cầ n bảo đảm truy tố hiệu quả bằng việc thực thi các biê ̣n pháp ở cấ p độ quố c gia và tăng cường hợp tác quố c tế ” [13].
Như vâ ̣y, với mu ̣c tiêu ngăn chă ̣n, giải quyết các xung đột vũ trang thông qua việc trừng trị những cá nhân thực hiê ̣n tô ̣i pha ̣m mô ̣t cách có hiê ̣u quả đã khẳ ng đinh ̣ vai trò củaTòa án Hình sự quốc tế đố i với “Quyế t tâm chấm dứt tình trạng lọt lưới pháp luật của những kẻ gây tội ác nói trên và do vậy góp phầ n ngăn ngừa những tội ác đo[13]. ́” Tòa án Hình sự quốc tế còn có vai trò phòng ngừa đối với các tội phạm thuộc thẩ m quyề n của Tòa án Hình sự quốc tế trên toàn thế giới. Sự ra đời của Tòa án Hin ̀ h sự quố c tế (ICC) là một sự kiê ̣n có vai trò quan trọng trong quan hê ̣ qu ốc tế. Lần đầu tiên trong lịch sử có một Tòa án hình sự quốc tế thường trực, hoạt động độc lập theo nguyên tắc bổ sung cho pháp luật quốc gia, nhằm xét xử những cá nhân phạm tội ác nghiêm trọng trên bình diện quốc tế.
Từ nay, những kẻ thực hiện tội ác dã man nhất, vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế sẽ bị đem ra trước công lý “… sẽ bị trừng phạt , các tội ác sẽ không bị lãng quên hoặc thậm chí bi ̣ che đậy , mà sự thật đó phải được đưa ra ánh sáng một cách rõ ràng và không thể tranh cãi” [41]. Quy chế Rome về Tòa án Hình sự quố c tế đóng góp cho sự phát tri ển của luật hình sự quốc tế Có thể khẳng định rằng, Quy chế Rome là một văn bản pháp lý có tính tổng hợp trong lĩnh vực Tư pháp hình sự quốc tế vì nó chứa đựng các quy phạm không chỉ về luật nội dung (Luật hình sự) mà còn cả về luật hình thức (Luật Tố tụng hình sự). Quy chế Rome ra đời là mô ̣t bước hoàn thiê ̣n , phát triển “Luật Quốc tế” hướng tới mu ̣c đích bảo vê ̣ hòa bình, an ninh quố c tế. Vai trò của Quy chế Rome thông qua hoạt động của Tòa án Hình sự quốc tế đ ối với sự phát triển của Khoa học Luật hình sự tương ứng với các chế định truyền thống của Luật hình sự được thể hiện: Thứ nhất, về các nguyên tắc chung của Luật hình sự, Quy chế Rome dành 15 hẳn Phần 3 (từ Điều 22 đến Điều 33) để quy định về vấn đề này.
Quy chế như một sự tổng hợp của các nguyên tắc được ghi nhận trong các văn bản pháp luật liên quan trước đó, và trở thành "sợi chỉ đỏ xuyên suốt các quy định của Pháp luật hình sự”. Thứ hai, về tội phạm, Quy chế Rome được đánh giá là văn bản pháp lý quy đinh ̣ khá rõ ràng, cụ thể những khái niệm và hành vi cấu thành tội phạm thuộc quyền tài phán của Tòa án (tội phạm chiến tranh, tội diệt chủng, tội ác chống nhân loại). Quy chế không chỉ là sự pháp điển hoá từ các công ước trước đó mà còn có sự mở rộng với nhiều luận điểm mới, tiến bộ (điều này sẽ được làm rõ hơn ở phần thẩ m quyề n tài phán của ICC). Thứ ba, về các căn cứ loại trừ trách nhiệm hình sự, Quy chế Rome quy định thành hai nhóm căn cứ chính Nhóm 1: Loại trừ tính chất tội phạm của hành vi bao gồm các quy định tại khoản 1, Điều 31, có thể được gọi một cách ngắn gọn là tình trạng mất năng lực hành vi hình sự (do bị bệnh hoặc đang trong tình trạng say), phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết.
Như vậy khi hành vi tội phạm được thực hiện mà chủ thể đang trong tình trạng mất năng lực hành vi hình sự hoặc hành vi đó không bị luật hình sự cấm, thì hành vi đó không cấu thành tội phạm và do đó không thể chịu trách nhiệm hình sự. Nhóm 2: Loại trừ lỗi của chủ thể khi thực hiện hành vi. Nhóm này bao gồm những trường hợp do sai lầm về sự việc hoặc sai lầm về pháp luật (Điều 32), tội phạm được thực hiện theo mệnh lệnh (Điều 33). Điều này có nghĩa là khi chủ thể thực hiện hành vi không có lỗi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Thứ tư, về hình phạt và quyết định hình phạt, Quy chế Rome không quy định hình phạt tử hình mà hình phạt cao nhất là tù chung thân. Đây có thể nói là một quan điểm nhân đạo, tiến bộ phù hợp với xu thế hiện nay đó là các nước dần bãi bỏ hình phạt tử hình. Bên cạnh hình phạt tù, Tòa án có thể áp dụng hình phạt bổ sung như phạt tiền hoặc tịch thu tài sản.