Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, việc quyết định hình phạt của Tòa án phải dựa trên các căn cứ luật định nhằm đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh và phân hóa trách nhiệm hình sự (TNHS). Theo Điều 50 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015, cùng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS là căn cứ trực tiếp để Hội đồng xét xử xác định mức hình phạt tương xứng. Mặc dù BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhiều quy định so với BLHS năm 1999, việc áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS tại Điều 52 trong thực tiễn xét xử vẫn phát sinh vướng mắc, tồn tại nhiều cách hiểu và quan điểm áp dụng không đồng nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Tại địa bàn thành phố Hà Giang (tỉnh Hà Giang), Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Hà Giang đã nỗ lực thực hiện công tác xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử giai đoạn 2019–2023, việc áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS vẫn bộc lộ một số hạn chế, sai sót trong việc xác định tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng hoặc xem xét điều kiện tái phạm liên quan đến người chưa thành niên. Xuất phát từ yêu cầu cải cách tư pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật, tác giả Tạ Như Thảo (Trường Đại học Luật Hà Nội) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: "Quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và thực tiễn xét xử tại thành phố Hà Giang", dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trương Quang Vinh.

Mục tiêu nghiên cứu: Đưa ra các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng chính xác các tình tiết tăng nặng TNHS trong thực tiễn xét xử của Tòa án.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng quy định của BLHS năm 2015 về các tình tiết tăng nặng TNHS.
  2. Khảo sát, đánh giá tình hình áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS trong thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Hà Giang giai đoạn 2019–2023.
  3. Chỉ ra những vướng mắc, hạn chế, nguyên nhân xuất phát từ quy định pháp luật và từ chủ thể áp dụng; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và giải pháp tổ chức thực hiện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy định của BLHS năm 2015 về tình tiết tăng nặng TNHS và thực tiễn áp dụng các quy định này trong công tác xét xử vụ án hình sự.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang (trọng tâm là TAND thành phố Hà Giang).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, cùng các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp (trọng tâm là Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị).

Về cơ sở lý thuyết chuyên ngành, tác giả tiếp thu và tổng hợp các công trình nghiên cứu, giáo trình, từ điển luật học và bài viết chuyên khảo của các nhà khoa học pháp lý tiêu biểu như: GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, GS.TS. Lê Thị Sơn, TS. Dương Tuyết Miên, ThS. Trần Văn Sơn, ThS. Ngô Chí Cường, ThS. Bùi Văn Lam, ThS. Nguyễn Phương Thảo, ThS. Hoàng Văn Quán, ThS. Trần Thị Hương.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn áp dụng:

  • Bộ luật Hình sự năm 1985, 1999 và BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015.
  • Luật Người khuyết tật năm 2010.
  • Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 1999.
  • Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về xét xử tội phạm tham nhũng và chức vụ.
  • Án lệ số 17/2018/AL của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về tình tiết "Có tính chất côn đồ".
  • Công văn số 38/NCPL ngày 16/01/1976 của TANDTC tổng kết thực tiễn áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016; Công văn số 3544/VKSTC-14 ngày 07/8/2019 của VKSNDTC.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp lịch sử: Phân tích quá trình hình thành, phát triển các quy định về tình tiết tăng nặng TNHS qua từng thời kỳ lập pháp (1945–1985, 1985–1999, 1999–2015).
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp: Làm sáng tỏ bản chất pháp lý, đặc điểm, nội dung từng điểm quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh các quy định giữa BLHS năm 2015 với BLHS năm 1999 và 1985; đối chiếu quy định pháp luật với thực tiễn các bản án cụ thể.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, phân loại và xử lý số liệu xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự có áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS từ các báo cáo tổng kết ngành Tòa án thành phố Hà Giang và tỉnh Hà Giang giai đoạn 2019–2023.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Chương 1 hệ thống hóa các quan điểm học thuật và đưa ra khái niệm tổng hợp: Tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết được quy định trong BLHS, làm tăng thêm mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm trong giới hạn một khung hình phạt của trường hợp phạm tội cụ thể so với trường hợp phạm tội thông thường, đồng thời là căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm đó.

Tác giả chỉ ra 4 đặc điểm pháp lý cơ bản của tình tiết tăng nặng TNHS:

  1. Tính luật định bắt buộc: Phải được ghi nhận cụ thể trong BLHS (Điều 52 BLHS năm 2015). Khác với tình tiết giảm nhẹ (khoản 2 Điều 51 cho phép Tòa án ghi nhận tình tiết khác), đối với tình tiết tăng nặng, Tòa án tuyệt đối không được tùy tiện bổ sung các tình tiết ngoài luật.
  2. Làm tăng mức độ nguy hiểm của hành vi trong phạm vi cấu thành tội phạm: Tình tiết này làm gia tăng tính nguy hiểm của trường hợp cụ thể nhưng không làm thay đổi bản chất của tội phạm đã cấu thành.
  3. Không áp dụng khi đã là dấu hiệu định tội: Trường hợp tình tiết đã được nhà làm luật quy định trong cấu thành tội phạm cơ bản của một tội danh cụ thể thì Tòa án không được tiếp tục áp dụng tình tiết đó theo Điều 52.
  4. Không áp dụng khi đã là yếu tố định khung hình phạt: Nếu tình tiết đã được dùng làm căn cứ chuyển khung hình phạt tăng nặng thì không được coi là tình tiết tăng nặng khi lượng hình trong khung đó.

Lịch sử lập pháp về tình tiết tăng nặng TNHS tại Việt Nam được phân kỳ qua 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến trước BLHS 1985: Tình tiết tăng nặng quy định rải rác trong các sắc lệnh, pháp lệnh (Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng 1967) và Công văn số 38/NCPL (1976) chia thành 3 nhóm (khách quan, nhân thân, chủ quan).
  • Giai đoạn từ BLHS 1985 đến trước BLHS 1999: Quy định tập trung tại Điều 39 BLHS năm 1985, loại bỏ các tình tiết mang tính thời chiến (ảnh hưởng kháng chiến chống Mỹ, đầu cơ bóc lột...).
  • Giai đoạn từ BLHS 1999 đến trước BLHS 2015: Quy định tại Điều 48 BLHS năm 1999, hệ thống thành 14 điểm cụ thể theo phương diện khách quan, chủ quan và nhân thân.

Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Chương 2 đi sâu phân tích cấu trúc Điều 52 BLHS năm 2015 gồm 15 điểm tình tiết tăng nặng TNHS tại khoản 1 (từ điểm a đến điểm p) và nguyên tắc loại trừ tại khoản 2:

Nhóm tình tiết Các quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 Điểm mới / Điểm sửa đổi so với BLHS năm 1999
Hành vi, thủ đoạn, phương tiện - Phạm tội có tổ chức (điểm a)
- Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp (điểm b)
- Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác (điểm m)
- Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người (điểm n)
- Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh/che giấu tội phạm (điểm p)
- Bổ sung yếu tố "tinh vi" vào điểm m.
- Tách biệt hành vi trốn tránh, che giấu tội phạm sau khi thực hiện hành vi.
Động cơ, mục đích, tính chất - Lợi dụng chức vụ, quyền hạn (điểm c)
- Phạm tội có tính chất côn đồ (điểm d)
- Phạm tội vì động cơ đê hèn (điểm đ)
- Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng (điểm e)
- Chuẩn hóa phạm vi lợi dụng chức vụ theo tinh thần Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP.
- Vận dụng Án lệ số 17/2018/AL để xác định tính chất côn đồ.
Tần suất, nhân thân người phạm tội - Phạm tội 02 lần trở lên (điểm g)
- Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (điểm h, theo Điều 53)
- Sửa thuật ngữ "phạm tội nhiều lần" thành "phạm tội 02 lần trở lên" nhằm cụ thể hóa định lượng.
- Tách riêng chế định tái phạm và tái phạm nguy hiểm.
Đối tượng bị xâm hại & đối tượng bị lôi kéo - Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên (điểm i)
- Phạm tội đối với người không thể tự vệ, người khuyết tật nặng/đặc biệt nặng, người bị hạn chế nhận thức, người lệ thuộc (điểm k)
- Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội (điểm o)
- Thay "trẻ em" bằng "người dưới 16 tuổi".
- Thay "người già" bằng "người đủ 70 tuổi trở lên".
- Bổ sung đối tượng "người khuyết tật nặng, đặc biệt nặng, người bị hạn chế nhận thức" (dẫn chiếu Luật Người khuyết tật 2010).
- Thay "người chưa thành niên" bằng "người dưới 18 tuổi".
Hoàn cảnh phạm tội - Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc khó khăn đặc biệt của xã hội (điểm l) - Kế thừa và bổ sung yếu tố dịch bệnh, tình trạng khẩn cấp.

Khoá luận làm rõ việc loại bỏ 2 tình tiết tăng nặng trong BLHS năm 1999: "Xâm phạm tài sản của Nhà nước" và "Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng". Lý do loại bỏ là vì các tình tiết này mang tính trừu tượng hoặc đã được định lượng thành dấu hiệu định tội/định khung hình phạt ở Phần các tội phạm cụ thể. Theo thống kê của tác giả, số tình tiết tăng nặng trùng với dấu hiệu định tội/định khung ở BLHS năm 2015 đã giảm xuống còn 9/15 tình tiết (so với 12/14 tình tiết của BLHS năm 1999).


Chương 3: Tình hình áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong thực tiễn xét xử tại thành phố Hà Giang và một số giải pháp bảo đảm áp dụng

Khóa luận phân tích thực trạng công tác xét xử tại TAND thành phố Hà Giang giai đoạn 2019–2023 dựa trên hệ thống số liệu:

  • Bảng 3.1: Tổng số vụ án, bị cáo bị xét xử tại TAND thành phố Hà Giang.
  • Bảng 3.2: Kết quả xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm và số vụ án sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS tại TAND thành phố Hà Giang (2019–2023).
  • Bảng 3.3: Số tình tiết tăng nặng TNHS được áp dụng đối với bị cáo giai đoạn 2019–2023.
  • Bảng 3.4: Nhân thân người phạm tội áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS trên địa bàn thành phố Hà Giang giai đoạn 2019–2023.

Tác giả đi sâu phân tích sai sót thực tiễn điển hình qua chuỗi bản án liên quan đến bị cáo Vũ Đức Thịnh phạm tội "Trộm cắp tài sản" (Bản án số 05/2022/HS-ST ngày 18/01/2022 của TAND TP Hà Giang; Bản án số 283/2021/HS-ST của TAND quận Nam Từ Liêm; Bản án số 05/2017/HS-ST của TAND huyện Văn Chấn; Bản án số 115/2016/HS-ST):

  • Tại Bản án số 115/2016/HS-ST, Thịnh phạm tội ít nghiêm trọng khi mới 17 tuổi 9 tháng 2 ngày (chưa đủ 18 tuổi). Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 107 BLHS năm 2015 (hướng dẫn tại Công văn số 276/TANDTC-PC), người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội ít nghiêm trọng thì được coi là không có án tích.
  • Tuy nhiên, Bản án số 05/2017/HS-ST của TAND huyện Văn Chấn lại áp dụng tình tiết tăng nặng "Tái phạm" đối với Thịnh là không đúng pháp luật.
  • Ngược lại, đến Bản án số 172/2017/HS-ST của TAND quận Nam Từ Liêm, khi Thịnh đã có tiền án tại Bản án số 05/2017/HS-ST chưa được xóa án tích và tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản, Tòa án lại bỏ sót, không áp dụng tình tiết "Tái phạm".

Nguyên nhân hạn chế, vướng mắc:

  1. Thiếu văn bản hướng dẫn: BLHS 2015 có hiệu lực từ 01/01/2018 nhưng Hội đồng Thẩm phán TANDTC chưa ban hành nghị quyết thay thế Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP.
  2. Nhận thức chưa thống nhất: Tiêu chí xác định "tính chất côn đồ", "động cơ đê hèn", phân biệt giữa "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp", "phạm tội 02 lần trở lên" và "tái phạm" còn phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của từng Hội đồng xét xử.
  3. Năng lực, trách nhiệm cán bộ: Một số Thẩm phán chưa cập nhật đầy đủ các văn bản hướng dẫn thi hành luật, dẫn đến sai sót khi tra cứu án tích của người chưa thành niên.

Hệ thống giải pháp đề xuất:

1. Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật (BLHS năm 2015):

  • Bổ sung định nghĩa pháp lý chung về "Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự".
  • Thống nhất thuật ngữ lập pháp: Chuẩn hóa cách dùng từ "định khung" tại khoản 3 Điều 51 và "định khung hình phạt" tại khoản 2 Điều 52 BLHS.
  • Bổ sung nguyên tắc áp dụng: Một tình tiết tăng nặng chỉ được tính một lần trong cùng vụ án; chỉ tình tiết gắn liền với hành vi đang xét xử mới được xem xét.
  • Sửa đổi điểm o khoản 1 Điều 52 thành: "Người từ đủ 18 tuổi trở lên xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội", bảo đảm tính đồng bộ với khoản 3 Điều 416 BLTTHS năm 2015 và nguyên tắc tư pháp người chưa thành niên.
  • Bổ sung tình tiết tăng nặng mới: "Xúi giục người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần phạm tội".

2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn:

  • TANDTC cần sớm ban hành nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 52 BLHS năm 2015.
  • Nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán, Thư ký, Thẩm tra viên, Hội thẩm nhân dân thông qua tập huấn chuyên đề nghiệp vụ; hoàn thiện cơ chế tuyển chọn, thi tuyển.
  • Tăng cường thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ xét xử để phát hiện sai sót, tránh oan sai và bỏ lọt tội phạm.
  • Cải cách chế độ tiền lương, phụ cấp đãi ngộ tư pháp nhằm đảm bảo tính độc lập, vô tư của Thẩm phán.
  • Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và công khai bản án trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án.
  • Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật hình sự tại địa phương.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện lý luận và lịch sử lập pháp: Tổng hợp và đưa ra định nghĩa khoa học rõ ràng về tình tiết tăng nặng TNHS, làm rõ 4 đặc trưng pháp lý phân biệt với tình tiết giảm nhẹ và dấu hiệu cấu thành tội phạm.
  • Phân tích chi tiết quy định thực định: Phân loại và phân tích 15 tình tiết tăng nặng tại Điều 52 BLHS năm 2015, chỉ rõ điểm kế thừa và 2 điểm bị loại bỏ so với BLHS năm 1999.
  • Khảo sát số liệu thực tế tại địa phương: Phản ánh bức tranh xét xử thực tế tại TAND thành phố Hà Giang giai đoạn 2019–2023 qua 4 bảng số liệu chuyên đề (Bảng 3.1 đến Bảng 3.4).
  • Chỉ ra các sai sót nghiệp vụ thực tế: Phân tích cụ thể các bản án thực tiễn (như vụ án Vũ Đức Thịnh), phát hiện tình trạng áp dụng sai và áp dụng thiếu tình tiết tái phạm do nhầm lẫn quy định về án tích của người dưới 18 tuổi theo Điều 107 BLHS.
  • Đề xuất 6 nhóm kiến nghị lập pháp cụ thể: Đưa ra các giải pháp sửa đổi điều luật (điểm o Điều 52), bổ sung tình tiết mới (xúi giục người khuyết tật/tâm thần) và ban hành nghị quyết hướng dẫn của TANDTC.
  • Kết quả đánh giá học thuật: Khóa luận được Hội đồng chấm thi Khoa Pháp luật Hình sự (Đại học Luật Hà Nội) và Giảng viên hướng dẫn đánh giá xuất sắc với mức điểm 10 tuyệt đối (GVHD) và điểm Hội đồng đạt 9.8 / 10.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu thực tiễn và các bản án phân tích tập trung chủ yếu trên địa bàn thành phố Hà Giang (cấp huyện/thành phố thuộc tỉnh) trong khung thời gian 2019–2023; chưa mở rộng so sánh sâu với toàn bộ địa bàn các huyện khác trong tỉnh Hà Giang hoặc các tỉnh miền núi phía Bắc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực tiễn áp dụng Điều 52 BLHS năm 2015 ở phạm vi cấp tỉnh hoặc toàn quốc; nghiên cứu chuyên sâu về mối tương quan giữa tình tiết tăng nặng TNHS với các quy định mới trong Luật Tư pháp người chưa thành niên và các án lệ mới ban hành.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật học (chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự): Tham khảo cấu trúc nghiên cứu khóa luận, phương pháp luận nghiên cứu lý luận kết hợp khảo sát bản án thực tiễn.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên: Sử dụng làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu hồ sơ, phân biệt dấu hiệu định tội/định khung với tình tiết tăng nặng TNHS, tra cứu án tích đối với người chưa thành niên theo Điều 107 BLHS.
  • Các nhà nghiên cứu chính sách và lập pháp: Cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng dự thảo nghị quyết hướng dẫn áp dụng BLHS và hoàn thiện kỹ thuật lập pháp hình sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đưa ra định nghĩa tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như thế nào?
Tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết do BLHS quy định, làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt cụ thể so với trường hợp bình thường, là căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt nghiêm khắc hơn tương xứng với hành vi của người phạm tội.

2. Khi nào một tình tiết không được áp dụng làm tình tiết tăng nặng theo Điều 52 BLHS 2015?
Theo khoản 2 Điều 52 BLHS năm 2015, các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội (cấu thành tội phạm cơ bản) hoặc dấu hiệu định khung hình phạt (cấu thành tăng nặng) thì Tòa án không được coi là tình tiết tăng nặng khi quyết định hình phạt.

3. Vì sao tác giả cho rằng Bản án số 05/2017/HS-ST áp dụng tình tiết "Tái phạm" đối với bị cáo Vũ Đức Thịnh là sai?
Vì lần phạm tội trước đó của Thịnh tại Bản án 115/2016/HS-ST được thực hiện khi bị cáo mới 17 tuổi 9 tháng (chưa đủ 18 tuổi) và là tội ít nghiêm trọng. Theo điểm b khoản 1 Điều 107 BLHS 2015 và Công văn số 276/TANDTC-PC, người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội ít nghiêm trọng được coi là không có án tích, do đó không đủ điều kiện để tính là tái phạm cho lần phạm tội sau.

4. Khóa luận kiến nghị sửa đổi điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 như thế nào?
Tác giả kiến nghị sửa đổi quy định "Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội" thành "Người từ đủ 18 tuổi trở lên xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội", nhằm đảm bảo nguyên tắc xử lý nhân đạo đối với người chưa thành niên và đồng bộ với quy định tại khoản 3 Điều 416 BLTTHS năm 2015.

5. Hai tình tiết tăng nặng nào trong BLHS năm 1999 đã bị loại bỏ khỏi quy định chung tại BLHS năm 2015?
Đó là tình tiết "Xâm phạm tài sản của Nhà nước" và "Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng". Các nội dung này đã được định lượng trực tiếp trong dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt của từng tội danh cụ thể trong Phần các tội phạm của BLHS 2015.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Tạ Như Thảo đã làm sáng tỏ hệ thống lý luận và thực trạng pháp luật về các tình tiết tăng nặng TNHS theo Điều 52 BLHS năm 2015, đồng thời phản ánh khách quan bức tranh xét xử thực tế tại TAND thành phố Hà Giang giai đoạn 2019–2023. Công trình chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến sai sót trong việc áp dụng án tích và phân định cấu thành tội phạm, từ đó đề xuất các giải pháp lập pháp và tổ chức thực hiện có giá trị thực tiễn cao. Đây là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị cho công tác nghiên cứu, đào tạo pháp luật và thực tiễn xét xử hình sự.