Chương 1 của khóa luận đã đưa ra khái niệm về các tình tiết tăng nặng TNHS như sau: “Các fình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những tình tiết được quy định trong BLHS, làm tăng thêm mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm trong giới hạn một khung hình phạt của trường hợp phạm tội cụ thể so với trường hợp phạm tội thông thường, đông thời là căn cứ đề Tòa án quyết định hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm đó ”. Bên cạnh đó, khóa luận đã đưa ra đặc điểm của các tình tiết tăng nặng TNHS va trình bày cụ thể quá trình hình thành, phát triển những quy định về các tình tiết tăng nặng TNHS trong BLHS Việt Nam từ năm 1945 cho đến trước khi ban hành BLHS năm 2015. Đây chính là các cơ sở pháp lý đề từ đó, khóa luận phân tích, trình bày quy định về các tình tiết tăng nặng TNHS theo BLHS năm 2015 và việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trong thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Hà Giang từ năm 2019 — 2023. ® Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 CHUONG 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VÈ CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ Tình tiết tăng nặng TNHS được quy định trong BLHS năm 2015 tiếp tục kế thừa tiếp tục kế thừa những quy định của BLHS năm 1999, đồng thời bổ sung thêm các tình tiết mới đề phù hợp với thực tiễn.
Theo khoản I Điều 52 BLHS năm 2015 quy định các tình tiết tăng nặng TNHS đối với người phạm tội: “1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: a) Phạm tội có tổ chức; b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; d) Phạm tội có tính chất côn đồ; đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn; e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng; g) Phạm tội 02 lần trở lên; h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm; i) Pham tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên; k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chat, tinh than, công tác hoặc các mặt khác; I) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trang khan cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội; m) Dùng thủ đoạn tính vi, xảo quyệt, tàn ác đề phạm tội; n) Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội; o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội; p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.” Theo khoản 2 Điều 52 BLHS năm 2015 quy định: “Các /ình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”. Quy định này đảm bảo nguyên tắc công bằng, nhân đạo và cá thể hóa hình phạt một cách chính xác đồng thời không làm nặng hơn tình trạng vi phạm của người phạm tội. Có thể thấy, các tình tiết tăng nặng TNHS trong BLHS năm 2015 được quy định cụ thé, chat chẽ hơn và ít lặp lại trong các quy định về dấu hiệu định tội, định khung hình phạt hơn so với năm 1999.
Bởi lẽ, trong BLHS năm 2015, số tình tiết tăng nặng TNHS được quy định là dấu hiệu định tội hoặc dấu hiệu định khung hình phạt chiếm 9/15 tình tiết và so với BLHS năm 1999, số tình tiết tăng nặng TNHS được quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt chiếm 12/14 tình tiết. Phạm tội có tổ chức (điểm a khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015) Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.” Đây là một dạng đặc biệt của đồng phạm với mức độ cấu kết cao hơn. Tức là giữa những người tham gia trong đồng phạm có sự liên kết chặt chẽ, có tính bền vững, thống nhất ý chí cao. Phạm tội có tổ chức là trường hợp nhiều người cùng cố ý bàn bạc, cùng lập ra kế hoạch và cấu kết chặt chẽ với nhau cùng thực hiện kế hoạch, đồng thời, phương pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm và che dấu tội phạm trong phạm tội có tổ chức thường tỉnh vi xảo quyệt.
Tn tại trong tổ chức là quan hệ chỉ huy phục tùng, bởi lẽ, mỗi người sẽ thực hiện một hoặc một số hành vi và 7 Khoản 2 Điều 17 Bppj luật Hình sự năm 2015. 15 phải chịu sự điều khiển của người đứng đầu. Phạm tội có tổ chức thưởng được hình thành với phương hướng hoạt động lâu dài, bền vững. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa người tổ chức trong đồng phạm và phạm tội có tổ chức.
Trong đồng phạm, có 4 loại người đồng phạm: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Tùy thuộc vào quy mô, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà người phạm tội nắm giữ những vai trò khác nhau. Trong đó, người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, trực tiếp điều khién, phân công, đôn đốc việc thực hiện hành vi phạm tội. Người tổ chức trong đồng phạm nói về vai trò của một người trong vụ án có đồng phạm, còn phạm tội có tổ chức thể hiện quy mô, tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm.
Việc áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS phụ thuộc vào quy mô vụ án và vai trò tham gia của từng người vào tội phạm đó. Khi vụ án được xác định là có yếu tố “phạm tội có tổ chức” thì người phạm tội trong vụ án đó sẽ bị án đó đều áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội có tổ chức”. Tùy thuộc vào vai trò của người phạm tội trong vụ án mà mức độ tăng nặng TNHS nhiều hay ít. Người tổ chức (chủ mưu, cầm đầu, điều khiển việc thực hiện hành vi phạm tội) có mức độ tăng nặng TNHS cao hơn người giúp sức, người xúi giục và người thực hành.
Vì vậy, mức hình phạt khi quyết định hình phạt đối với người tô chức không thê thấp hơn so với mức hình phạt của các đồng phạm khác trong vụ án nếu các tình tiết khác là như nhau. Tình tiét tang nang TNHS “pham tdi có tổ chức” thường là tình tiết định khung hình phạt với các tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng như: Tội dâm ô đối với người dưới l6 tuổi (phạm tội thuộc trường hợp phạm tội có tô chức thì bị phạt tù từ 03 năm — 07 năm)Š, tội mua bán người (phạm tội thuộc trường hợp có tổ chức thì bị phạt tù từ 0§ năm đến Š khoản 2 Điều 146 Bộ luật hình sự năm 2015. 16 15 năm)”, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (phạm tội thuộc trường hợp có tổ chức thì bị phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình)!,. Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp (điểm b khoán 1 Điều 52 BLHS năm 2015) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần và coi việc phạm tội là nghề nghiệp của mình, lấy nguồn thu từ việc phạm tội là nguồn thu nhập chính.
Tình tiết này được quy định hoàn toàn phù hợp với Nguyên tắc xử lý tại điểm d khoản 1 Điều 3 BLHS năm 2015: “Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Theo Điều 5 Nghị quyết só 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 1999, áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” khi có đầy đủ các điều kiện sau: “a. C6 ÿ phạm lội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích; b. Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lẫy kết quả của việc phạm tội làm nguôn sóng chính ”.
Mặc dù, Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP nêu trên hướng dẫn quy định của BLHS năm 1999, tuy nhiên đến nay TANDTC chưa có hướng dẫn mới nên các Tòa án vẫn áp dụng tinh thần của Nghị quyết này để xem xét, van dụng giải quyết vụ án. Lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội (điểm e khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015) ® khoản 2Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015. !9 khoản 2 Điều 142 Bộ luật hình sự năm 2015. 17 Day là trường hợp người phạm tội sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình như công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội.
Bởi lẽ, chức vụ và quyền hạn là điều kiện thuận lợi đề người phạm tội thực hiện tội phạm một cách dễ dàng. Người phạm tội lợi dụng phạm vi chức vụ, quyền hạn, tầm ảnh hưởng của mình tới người khác mà thực hiện tội phạm gây thiệt hại cho Nhà nước, xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Bởi vậy, mức độ tăng nặng TNHS của người phạm tội phụ thuộc vào chức vụ, quyền hạn và mức độ lợi dụng chức vụ, quyền hạn của người phạm tội. Tuy nhiên cần lưu ý rằng, chỉ khi người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội thì đây mới được coi là tình tiết tăng nặng TNHS.
Ví dụ: A giữ chức vụ Trưởng khoa tâm thần của Bệnh viện H, còn B và C là 02 điều dưỡng cùng khoa với A. Trong quá trình khám chữa bệnh, A đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình trong việc kê đơn thuốc cho các bệnh nhân nên đã kê sai số lượng để cắt xén bớt đơn thuốc và vật tư của các bệnh nhân đang điều trị tại bệnh viện. Sau đó, A đã giao cho B va C mang thuốc bán ra ngoài dé trục lợi. Hành vi của các đối tượng đã gây thiệt hại cho bệnh viện hơn 500 triệu đồng.
Trong vụ án này, xuất phát từ động cơ vụ lợi, A, B và C đã lợi dụng việc được giao quản lý thuốc và vật tư y tế đề làm trái công vụ, mang thuốc bán ra ngoài kiếm lời. Hành vi của A, B và C đã phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn đề phạm tội.