CHƯƠNG I: KHÁI LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG AFFILIATE MARKETING VÀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG AFFILIATE MARKETING TRÊN CÁC NỀN TẢNG MẠNG XÃ HỘI 1. Khái quát về hoạt động Affiliate Marketing trên các nền tảng mạng xã hội 1. Khái niệm của hoạt động Affiliate Marketing trên các nền tảng mạng xã hội 1. Lịch sử của hoạt động Affiliate Marketing trên các nền tảng mạng xã hội So với lịch sử hình thành của hệ thống các phương pháp tiếp thị nói chung thì tiếp thị liên kết là một chiến lược tiếp thị ra đời muộn và được coi là giải pháp thay thế cho các chiến lược tiếp thị truyền thống và có tên đầy đủ bằng Tiếng Anh là Affiliate Marketing.
Theo Yeschek (2018), lịch sử tiếp thị liên kết bắt đầu từ năm 1989 với một người tên là William J. Tobin, người giữ danh hiệu nhà tiếp thị kỹ thuật số đầu tiên trên thế giới. Tobin bắt đầu chương trình liên kết của riêng mình cho công ty của mình có tên là PC Flowers & Gifts. Đến năm 1993, nó đã kiếm được hơn 6 triệu đô la hàng năm và thành công này đã khuyến khích Tobin cấp bằng sáng chế cho ý tưởng này vào năm 1996.
Năm 1994, CD Now tung ra chương trình Buy Web của họ và được coi là chương trình liên kết đầu tiên (Johnson, 2015a). CD Now là một cửa hàng trực tuyến để mua đĩa CD và băng video nhạc vật lý được thành lập vào tháng 2/1994 bởi hai anh em sinh đôi Jason Olim và Matthew Olim ở Ambler, Pennsylvania1. Ý tưởng của chương trình là các trang web có thể tham gia chương trình của họ, liên kết đến nội dung của họ và kiếm được phần trăm hoa hồng từ bất kỳ giao dịch mua nào được thực hiện từ trang web. Những khoản hoa hồng này sau đó được thanh toán qua séc hoặc như một khoản bồi thường để mua đĩa CD và băng từ cửa hàng trực tuyến.
Nhà tiên phong nổi tiếng nhất về tiếp thị liên kết là Amazon, đã khởi chạy chương trình Amazon Associates của riêng họ vào năm 1996. Mô hình mà Amazon sử dụng liên quan đến việc trả hoa hồng phần trăm cho mỗi sản phẩm được bán. Các chi nhánh có thể tham gia chương trình Amazon Associates và kiếm được từ 5% - 15% hoa hồng cho doanh số bán hàng mà họ tạo ra. Sau này, đây trở thành mô hình mà nhiều affiliate network sử dụng ngày nay (Jeb Commerce, 2019).
Commission Junction và Clickbank là những mạng liên kết đầu tiên. Cả hai đều được ra mắt vào năm 1998 và chúng vẫn nằm trong số các mạng liên kết phổ biến nhất hiện nay (Affiliate Marketer Training, 2019). Sự ra đời của các mạng này cho phép các công ty đối tác có nhu cầu cùng tham gia vào lĩnh vực tiếp thị liên kết. Sau đó, Commission Junction đã được ValueClick mua lại với giá 58 triệu đô la và vẫn là một trong những mạng lưới liên kết lớn nhất và thành công nhất hiện nay (Johnson, 2015b).
Tại Việt Nam, hoạt động tiếp thị liên kết được xem là hình thức tiếp thị còn rất non trẻ, 1 Reyes, Juliana (July 31, 2012). "CDNow: 3 lessons from Fort Washington-based pioneering 1990s-era online music retailer". 7 mới xuất hiện và phát triển mạnh từ cuối năm 2019. Sự xuất hiện của tiếp thị liên kết trên mạng xã hội được cho là gắn liền với sự xuất hiện của đại dịch Covid-19 và phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây.
Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, nhưng khái niệm và nguyên tắc chính của hoạt động tiếp thị liên kết vẫn không thay đổi. Trong tương lai, hầu hết người tiêu dùng sẽ luôn có mong muốn tìm kiếm và nghiên cứu thông tin một cách rõ ràng trước khi quyết định mua sản phẩm. Đó là một trong những lý do chính để lý giải tại sao tiếp thị liên kết đã và đang ngày một phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Khái niệm của hoạt động Affiliate Marketing trên các nền tảng mạng xã hội Khái niệm tiếp thị liên kết trên Internet được hình thành, đưa vào thực tế bởi William J và ông được cấp bằng sáng chế đầu tiên cho việc đưa ra hình thức tiếp thị này.
Tobin vào năm 1996, tuy nhiên việc tiếp thị liên kết đã được diễn ra chính thức vào tháng 11 năm 1994, gần 4 năm sau khi World Wide Web ra đời. Nổi bật trong số những doanh nghiệp đã sử dụng hình thức liên kết này là Amazon - công ty hàng đầu thế giới về lĩnh vực bán lẻ trực tuyến. Amazon đã triển khai chương trình liên kết vào tháng 7 năm 1996: Các đối tác của Amazon có thể đặt liên kết biểu ngữ hoặc văn bản trên trang web của họ cho từng cuốn sách hoặc liên kết trực tiếp đến trang chủ của Amazon. Khi khách truy cập nhấp vào trang web của những người đối tác này để truy cập Amazon và mua sách, họ sẽ nhận được hoa hồng2.
Các chương trình tiếp thị liên kết mặc dù đã xuất hiện từ trước đó rất lâu nhưng trang web thương mại Amazon đánh dấu sự biết đến rộng rãi đối với công chung cũng như là hình mẫu cho rất nhiều chiến dịch tiếp thị liên kết về sau3. Trong các tài liệu nghiên cứu, tồn tại nhiều khái niệm khác nhau Affiliate Marketing, do các tác giả tiếp cận từ góc độ khác nhau. Cụ thể: Theo trang web Brand Việt Nam - Cộng đồng Marketing và Xây dựng Thương hiệu toàn diện tại Việt Nam, Affiliate marketing là mô hình Performance Marketing. Nghĩa là các công ty sẽ chi trả chi phí marketing dựa trên hiệu suất làm việc.
Có thể hiểu đơn giản: chiến lược Affiliate marketing bán được nhiều sản phẩm thì công ty sẽ trả chi phí marketing lớn. Ngược lại, chiến lược affiliate marketing bán được ít sản phẩm thì công ty sẽ chi trả chi phí marketing thấp hơn4. Theo trang đầu tư tài chính Investopedia: “Affiliate marketing is an advertising model in which a company compensates third-party publishers to generate traffic or leads to the 2 Xem thêm: Gray, Daniel (1999), The Complete Guide to Associate and Affiliate Programs on the Net, McGraw-Hill Trade. 3 Xem thêm: Frank Fiore and Shawn Collins (2001), Successful Affiliate Marketing for Merchants, from pages 12, 13 and 14.
4 Xem thêm: https://www.com/congdong/topic/325027-Affiliate-Marketing-giai-phap-thay-the-Market ing-truyen-thong-cho-cac-doanh-nghiep-SME, Affiliate Marketing: giải pháp thay thế Marketing truyền thống cho các doanh nghiệp SME?, truy cập ngày 1/4/2023. 8 company’s products and services. The third-party publishers are affiliates, and the commission fee incentivizes them to find ways to promote the company”. Được dịch lại theo một bài báo tại trang chính thức của Trường đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh như sau: “Affiliate marketing (hay còn gọi là tiếp thị liên kết) là hình thức quảng bá sản phẩm/dịch vụ, trong đó một công ty trả tiền cho bên thứ ba là những nhà xuất bản (Publisher) để tạo ra lượng truy cập dẫn đến sản phẩm/dịch vụ của công ty.
Các nhà xuất bản sẽ nhận khoản hoa hồng khi người dùng ghé thăm trang của mình quản lý (website, fanpage, social network…) và thực hiện những hành động như: mua hàng, đăng ký sử dụng dịch vụ, điền thông tin,. Khoản hoa hồng này sẽ khuyến khích họ quảng bá cho sản phẩm của công ty. Theo Del Franco & Miller (2003); Goff (2006); Goldschmidt và cộng sự (2003); Haig (2001); Mariussen và cộng sự (2010); Tweney (1999): “Affiliate marketing is a type of online marketing, whereby a firm (an advertiser or a merchant) signs an agreement with another firm (a publisher or an affiliate) to feature a link from its websites on affiliated sites. The key objectives of affiliate marketing are to promote and sell products or services through additional distribution outlets, drive web traffic to advertisers, and generate transactions from online users in return for a commission”.
Được dịch lại là: “Affiliate marketing là loại hình marketing trực tuyến, theo đó một doanh nghiệp hoặc người bán ký một thỏa thuận với một đơn vị liên kết để giới thiệu sản phẩm bằng việc chia sẻ các đường link dẫn đến trang web liên kết có chứa sản phẩm. Mục tiêu chính của tiếp thị liên kết là quảng bá và bán sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua các cửa hàng phân phối bổ sung, hướng lưu lượng truy cập web đến nhà quảng cáo và tạo giao dịch từ người dùng trực tuyến để đổi lấy hoa hồng”. Theo Hoffman và Novak (2000) “the online act of promoting someone else’s goods and services to earn commissions from sales leads provided”, được dịch là “Affiliate marketing là hành động quảng bá sản phẩm của người khác thông qua internet để kiếm hoa hồng từ các mối hàng được cung cấp”6. Hầu hết các định nghĩa đều đưa đến một ý là người dẫn liên kết sẽ nhận được một khoản tiền gọi là commission.
Theo trang từ điển của Oxford, commission là một số tiền được trả cho ai đó để bán hàng hóa và số tiền đó tăng lên theo số lượng hàng hóa được bán. Còn theo tiếng việt, tiền hoa hồng có thể được hiểu là số tiền thù lao mà người uỷ thác trả cho người trung gian (làm đại lý hay môi giới) về những dịch vụ đã làm tuỳ thuộc tính chất và khối lượng công việc. Minh chứng cho các hiểu này, tại chính sách Affiliate của Gymstore có quy định như sau :“Người tham dự chương trình Tiếp thị liên kết của GYMSTORE sẽ trở thành 5 Xem thêm: https://ueh.vn/tuyen-sinh/bat-mi-nhung-bi-mat-ve-affiliate-marketing-tiep-thi-lien-ket-58424, Bật mí những “bí mật” về Affiliate Marketing - Tiếp thị liên kết, truy cập ngày 1/4/2023. 6 Xem thêm: Affiliate marketing và tiềm năng ứng dụng tại Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghệ 4.vn/bai-viet/affiliate-marketing-va-tiem-nang-ung-dung-tai-viet-nam-trong-boi-canh-cach- mang-cong-nghe-40-86548.htm, truy cập ngày 16/5/2023 9 đối tác trực tiếp của GYMSTORE và được hưởng phần trăm hoa hồng do chính GYMSTORE thanh toán.
Do đó, commission hoàn toàn có thể được hiểu là tiền hoa hồng. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đề xuất một cách hiểu đơn giản dựa theo mục đích mà bài nghiên cứu này, cũng như là của Del Franco & Miller (2003); Goff (2006); Goldschmidt và cộng sự (2003); Haig (2001); Mariussen và cộng sự (2010); Tweney (1999), “Affiliate marketing là hình thức tiếp thị trực tuyến, theo đó một doanh nghiệp hoặc người bán ký một thỏa thuận với một đơn vị liên kết để giới thiệu sản phẩm bằng việc chia sẻ các đường link dẫn đến trang web liên kết có chứa sản phẩm. Đơn vị liên kết này sẽ được trả một khoản hoa hồng tương ứng với hiệu suất” 1. Các hình thức của hoạt động Affiliate Marketing trên các nền tảng mạng xã hội Vào năm 2009, nhà tiếp thị liên kết nổi tiếng tên là Pat Flynn đã phân loại tiếp thị liên kết thành ba loại – tiếp thị liên kết không có sự gắn bó (Unattached Affiliate Marketing), tiếp thị liên kết có sự liên quan (Related Affiliate Marketing) và tiếp thị liên kết có sự gắn bó mật thiết (Involved Affiliate Marketing)8.