CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ VỐN LUÂN CHUYỂN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về vốn luân chuyển Vốn luân chuyển theo nghĩa rộng là giá trị của toàn bộ tài sản lưu động, là những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty. Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hóa qua tất cả các dạng tồn tại từ tiền mặt đến tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt.
Với sự chuyển hóa nhanh như vậy, các hoạt động quản trị vốn luân chuyển chiếm gần như phần lớn thời gian và tâm trí của các nhà quản trị tài chính. Nhiệm vụ đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn cho vốn luân chuyển là yếu tố thúc đẩy sự chuyển hóa nhanh chóng giữa các hình thái tồn tại cơ bản của tài sản lưu động để liên tục sản sinh ra ngân quỹ. 297] Khi phân tích vốn luân chuyển, người ta có thể sử dụng thêm chỉ tiêu Vốn luân chuyển ròng (VLCR), đây là phần giá trị tài sản ngắn hạn được tài trợ bằng các nguồn vốn dài hạn. Vốn luân chuyển ròng = Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn (1.1) Nếu vốn luân chuyển ròng bị âm (VLCR<0), nghĩa là nợ ngắn hạn lớn hơn tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp đã sử dụng một phần nợ ngắn hạn đầu tư vào tài sản cố định.
Vốn luân chuyển ròng âm rất nguy hiểm bởi vì nợ ngắn hạn có thời gian đáo hạn ngắn, trong khi tài sản cố định có thời gian hoàn vốn chậm dẫn đến doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.15-16] Luan van 10 Vốn luân chuyển ròng được tính như sau: Tài sản cố định Vốn chủ sở Nguồn hữu Tài sản ngắn hạn Vốn luân thường Vốn vay dài - Hàng tồn kho chuyển ròng xuyên hạn - Khoản phải thu và tài sản khác Vốn ngắn hạn - Chứng khoán - Nợ tài chính ngắn hạn - Quỹ lưu động - Khoản phải trả - Dự trữ ngắn hạn Hình 1. Vốn luân chuyển ròng trên bảng cân đối kế toán 1. Kết cấu vốn luân chuyển và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn luân chuyển a. Kết cấu vốn luân chuyển của doanh nghiệp Kết cấu vốn luân chuyển của doanh nghiệp là tỷ trọng từng khoảng vốn hay từng bộ phận vốn chiếm trong tổng số vốn luân chuyển của doanh nghiệp.
Kết cấu vốn luân chuyển bao gồm những bộ phận cơ bản sau:[3, tr. 318] Vốn bằng tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Vốn bằng tiền gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển…Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn bằng tiền là yếu tố trực tiếp quyết định khả năng thanh toán các khoản nợ, mua sắm vật tư và hàng hóa. Tuy nhiên, nếu dự trữ quá nhiều tiền mặt, không hợp lý sẽ dẫn đến ứ Luan van 11 đọng vốn làm cho hiệu quả sử dụng vốn bị giảm đi; ngược lại, nếu dự trữ quá ít sẽ gây khó khăn cho doanh nhiệp trong thanh toán. Các khoản đầu tư ngắn hạn gồm: trái phiếu hoặc cổ phiếu…Việc đầu tư tài chính ngắn hạn mang lại thu nhập cho doanh nghiệp là tiền lãi của trái phiếu, cổ phiếu và sự gia tăng giá trị thị trường của cổ phiếu Giá trị các khoản phải thu: Đây là bộ phận quan trọng cấu thành vốn luân chuyển.
Khi doanh nghiệp bán sản phẩm, hàng hóa của mình, thông thường sự giao nhận tiền - hàng hóa không xảy ra đồng thời nên phát sinh công nợ phải thu khách hàng. Giá trị hàng tồn kho:là vật tư, sản phẩm dở dang, hàng hóa tồn kho. Doanh nghiệp cần tính toán, duy trì một lượng tồn kho với cơ cấu hợp lý nhằm đảm bảo sản xuất kinh doanh liên tục và hiệu quả. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn luân chuyển Các nhân tố về mặt sản xuất: như quy mô sản xuất kinh doanh, độ dài của chu kỳ sản xuất…từ đó sẽ dẫn đến tỷ trọng vốn luân chuyển cũng khác nhau.[3] Các nhân tố về cung ứng - tiêu thụ: khoảng cách giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp, khách hàng; khả năng cung cấp của thị trường; khối lượng tiêu thụ sản phẩm… Các nhân tố về mặt thanh toán: phương thức thanh toán, thủ tục thanh toán, việc chấp hành kỷ luật trong thanh toán… 1.
Tầm quan trọng của quản trị vốn luân chuyển Tài sản ngắn hạn thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của một doanh nghiệp. Chúng có đặc điểm chuyển hoá thành tiền nhanh, vì thế tài sản ngắn hạn có tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo đảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp.26] Quản trị vốn luân chuyển hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp: xác định được Luan van 12 số vốn luân chuyển cần thiết trong kỳ kinh doanh, đảm bảo đủ vốn luân chuyển để quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục; khai thác tốt nguồn vốn bên trong và bên ngoài doanh nghiệp; có giải pháp bảo toàn và phát triển vốn cho doanh nghiệp, đảm bảo khả năng mua sắm và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Như vậy, vốn luân chuyển chính là thước đo cho hiệu suất và sức mạnh tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp. Các quyết định trong quản trị vốn luân chuyển là điều hết sức quan trọng đối với một doanh nghiệp, ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng sinh lợi và rủi ro của doanh nghiệp và đó cũng chính là thách thức đối với các nhà quản lý tài chính.
CÁC CHÍNH SÁCH CƠ BẢN CỦA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN 1. Chu kỳ chuyển hoá thành tiền của các tài sản Trong một chu kỳ kinh doanh, các tài sản lưu động chuyển hóa liên tục qua tất cả các hình thái, từ tiền mặt, đến tồn kho, khoản phải thu và quay trở lại tiền mặt. Chu kỳ này chính là chu kỳ chuyển hóa tiền mặt. Chính sách vốn luân chuyển hiệu quả phải đảm bảo giảm tối thiểu thời gian từ khi trả tiền mua nguyên vật liệu đến khi thu tiền bán tín dụng.[3, tr 299-303] Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt bao gồm khoảng thời gian từ khi công ty thanh toán các khoảng nợ đến khi thu tiền mặt.
Trong khoảng thời gian đó, có các yếu tố sau đây: Chu kỳ chuyển hóa tồn kho: là thời gian bình quân cần thiết để chuyển hóa nguyên vật liệu thành sản phẩm cuối cùng và bán cho người tiêu dùng. Chi tiết ra, khoảng thời gian này gồm, thời gian bình quân nguyên vật liệu ở trong kho, toàn bộ thời gian chu kỳ sản xuất, thời gian bình quân sản phẩm tồn kho. Kỳ thu tiền bình quân: là khoảng thời gian để chuyển khoản phải thu thành tiền mặt, nghĩa là thời gian cần thiết để thu tiền từ khách hàng kể từ thời Luan van 13 điểm ghi hóa đơn. Kỳ thanh toán bình quân: là độ dài thời gian từ khi mua nguyên vật liệu hay thuê lao động đến khi thanh toán tiền cho họ.
Kỳ thanh toán bình quân = Khoản phải trả/ Chi phí bán hàng bình quân mỗi ngày. Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt: bằng tổng thời gian từ khi chi tiền mặt đến khi nhận tiền mặt. Kỳ chuyển hóa tiền mặt vì vậy bằng khoảng thời gian bình quân đồng vốn được duy trì dưới hình thức tài sản lưu động. Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt có thể được biểu diễn trong phương trình sau: Chu Chu Chu kỳ Kỳ kỳ thanh (1.2) kỳ chuyển chuyển hóa thu tiền toán bình hóa tiền mặt tồn kho bình quân quân Có thể rút ngắn chu kỳ chuyển hóa tiền mặt bằng cách: Giảm chu kỳ chuyển hóa tồn kho bằng thúc đẩy quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa; Giảm kỳ thu tiền bằng thúc đẩy chính sách bán hàng và thu nợ hợp lý; Kéo dài thời gian thanh toán bằng trì hoãn thời gian thanh toán cho các nhà cung cấp.
Chính sách đầu tư tài sản lưu động Nên đầu tư bao nhiêu vào tài sản lưu động, và đầu tư cho tài sản nào? Cấu trúc và chất lượng của tài sản lưu động quyết định ngân quỹ để đáp ứng với các nghĩa vụ tài chính.306-309] Cách thức ra quyết định tài sản lưu động: giả sử các nhân tố khác được giữ cố định thì: Thứ nhất, càng tăng tài sản lưu động, tăng tỷ lệ tài sản thanh toán, khả Luan van 14 năng thanh toán của công ty sẽ tăng lên. Thứ 2, càng tăng tài sản lưu động, tăng tỷ lệ tài sản thanh toán, tốc độ quay vòng của tổng tài sản giảm. Thứ 3, càng tăng tài sản lưu động, tăng tỷ lệ tài sản thanh toán, khả năng sinh lợi trên tổng tài sản giảm. Chính sách đầu tư tài sản lưu động:có ba chính sách đầu tư tài sản lưu động là chính sách hạn chế, chính sách ôn hòa và chính sách thả lỏng.
Với chính sách hạn chế, tài sản lưu động chuyển hóa thành doanh thu với tốc độ nhanh hơn, nên mỗi đồng tài sản lưu động sẽ vận động nhanh hơn và hiệu quả hơn. Các chính sách ôn hòa và thả lỏng sử dụng nhiều vốn luân chuyển hơn để tạo ra một đồng doanh thu, do vậy hiệu quả và tốc độ luân chuyển của tài sản lưu động sẽ chậm hơn. Trong điều kiện nền kinh tế ít rủi ro, việc dự đoán doanh thu, chi phí, kỳ thanh toán là khá chính xác, Công ty nên duy trì tài sản lưu động ở mức tối thiểu. Việc tăng tài sản lưu động có thể dẫn đến khả năng tăng nhu cầu tài trợ từ bên ngoài mà không đem lại một mức tăng tương ứng của lợi nhuận.
Trong điều kiện rủi ro, công ty phải duy trì một khoản tiền mặt và tồn kho tối thiểu dựa trên những dự đoán về chi phí, doanh thu, cộng với khoảng dự phòng, giúp công ty xử lý những tình huống khi dòng ngân quỹ lệch khỏi giá trị kỳ vọng. Với chính sách đầu tư tài sản lưu động hạn chế, công ty chỉ duy trì tiền mặt và tồn kho ở mức an toàn tối thiểu mặc dù điều này có thể dẫn đến nguy cơ mất doanh thu. Chính sách đầu tư tài sản lưu động hạn chế thường đem lại cho công ty mức thu nhập kỳ vọng trên vốn đầu tư cao nhất, nhưng nó lại chứa đựng nhiều rủi ro nhất, trong khi đó, chính sách thả lỏng cho kết quả ngược lại. Chính sách ôn hòa là chính sách ở giữa hai chính sách trên về mặt thu nhập kỳ vọng và rủi ro.
Các chính sách tài trợ tài sản lưu động Nhu cầu vốn luân chuyển bao gồm hai thành phần, nhu cầu thường xuyên và nhu cầu thời vụ. Phân tích này giúp chúng ta có một định hướng về cách tiếp cận ra quyết định tài trợ cho tài sản lưu động căn cứ vào đặc tính và nhu cầu mỗi tài sản.