mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cau tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán gia”. Quản trị sản xuất chương trình truyền hình là tổng hợp các hoạt động xây dựng hệ thống sản xuất chương trình truyền hình va quản lý quá trình biến đổi các yếu tố đầu vào như nguồn lực tài chính, ngân sách, nguồn nhân lực sản xuất, tư liệu nội dung, trang thiết bị, thị hiếu của khán gia dé tạo ra sản phẩm là các chương trình truyền hình có giá trị cả về thông tin và giải trí, thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường, khai thác mọi tiềm năng của nhà sản xuất với mục đích tối đa hóa lợi nhuận thu về. Từ nghiên cứu trên có thé quan niệm: Quản tri sản xuất chương trình truyền hình đối ngoại là tong hợp các hoạt động xây dựng hệ thống sản xuất và quan lý quá trình sử dung các nguồn lực đầu vào của chương trình đề tạo ra các chương trình truyền hình có giá trị phục vụ nhu cầu thị hiếu và phản ánh tâm tư, nguyện vọng, cuộc sống của kiều bào Việt Nam sinh sống, làm việc ở tat cả các quốc gia, vùng lãnh thô trên thé giới, khai thác tối đa các nguồn lực sản xuất của đài truyền hình quốc gia với mục đích mang lại giá trị lợi nhuận vả đầu tư tái sản xuất các chương trình tiếp theo có chất lượng hơn. 17 Mục tiêu quản trị sản xuất là nhằm thực hiện nâng cao chất lượng sản xuất các chương trình truyền hình đối ngoại theo yêu cầu của Thủ tướng chính phủ về xây dựng các kênh truyền hình đối ngoại quốc gia.
Thực tiễn hiện nay các chương trình truyền hình phục vụ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (Chương trình VTC10 của Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC và chương trình VTV4 của Đài Truyền hình Việt Nam sau năm 2015); Các chương trình truyền hình đối ngoại tại chỗ phục vụ từng đối tượng, địa bàn cụ thể và một số chương trình phát thanh và truyền hình đối ngoại khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Nội dung các chương trình truyền hình đối ngoại được đổi mới theo hướng: Tích cực, chủ động, kịp thời thông tin tuyên truyền về thành tựu của công cuộc đổi mới, về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, tiềm năng phát triển và hợp tác của Việt Nam, về đất nước, con người, lịch sử, văn hóa, những giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc. Chú trọng giới thiệu chính sách đối ngoại của Việt Nam, quan điểm của ta về các vấn đề quốc tế và khu vực. Tăng cường thông tin về kinh tế đối ngoại, thu hút đầu tư nước ngoai, xúc tiến thương mại, du lịch, hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Đối tượng hướng đến của các chương trình truyền hình đối ngoại mà quản trị sản xuất cần chú trọng cũng có điểm khác riêng biệt so với các chương trình truyền hình trong nước, khi đối tượng khán giả tập trung ở hai nhóm chính có đặc điểm hoàn toàn khác nhau: - Nhóm đối tượng ở ngoài nước Đây là nhóm đối tượng rất quan trọng, gồm các tô chức, định chế quốc tế, chính giới, học giả, báo chí, nhà kinh doanh, bạn bè quốc tế, nhân dân các nước và người Việt Nam đang sinh sông, học tập, lao động và công tác ở nước ngoài, đặc biệt là giới trẻ. Trước hết là nhóm đối tượng người nước ngoài, hay còn gọi là nhân dân thế giới sống ở các nước, bao gồm bộ máy nhà nước của các quốc gia, các tổ chức quốc tế, các tô chức phi chính phủ, các nhà hoạt động xã hội và đồng dao tang lớp quần chúng nhân dân trên thé giới. Day là nhóm đối tượng rất quan trọng, chiếm số lượng đông đảo trên thé giới. Nhóm đối tượng này có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước ta.
Trong chiến tranh, chính nhóm đối tượng này đã đứng lên bảo vệ và đòi Chính phủ các nước chấm dứt chiến tranh với Việt Nam. Hãy ngược dòng thời gian quay lại những năm 1960, 1970. Lúc bay giờ, tại Cộng hòa Liên bang Đức, các tầng lớp nhân dân của hơn 50 thành phố đồng loạt biểu tinh, phân phát 20 vạn truyền đơn trong nhân dân và cả lính Mỹ 18 đóng ở nước này dé kêu gọi nhà cầm quyền Mỹ chấm dứt ngay cuộc chiến tranh phi nghĩa chống nhân dân Việt Nam. Và ngay trong chính đất nước Mỹ, phòng trào phản đối chiến tranh làm “rung chuyên” nước Mỹ, nhiều công dan Mỹ đã tuan tiết.
Morrison tâm dầu tự thiêu đã đánh thức cả thế hệ thanh niên Mỹ tránh xa cuộc chiến tranh phi nghĩa. Đến năm 1967, toàn nước Mỹ có hơn 200 tổ chức chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Các hoạt động như thé “lan truyền” mạnh mẽ sang các nước nói tiếng Pháp ủng hộ Việt Nam, các hoạt động đã diễn ra rất sôi động và hiệu quả. Tại Thụy Điền, phong trào “Một triệu cua-ron ủng hộ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” diễn ra rất rằm rộ.
Và chính tại Nhật Bản, cuộc đấu tranh mùa xuân năm 1965 đã thu hút 91 t6 chức công đoàn tiến hành tông bãi công chống sản xuất hàng cho quân đội Mỹ ở Việt Nam. Và cũng chính nhóm đối tượng này, ngày nay vẫn ra sức ủng hộ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước của nhân dân Việt Nam, dé từng bước Việt Nam khang định vi thé, vai trò của mình trong các tổ chức ASEAN (các nước Đông Nam Á), APEC (Tổ chức Hợp tác kinh tế Châu A — Thái Bình Dương), WTO (Tổ chức thương mại Thế giới), UN (Tổ chức Liên Hợp quốc).Trong các hoạt động nhân đạo, hàng năm, rất nhiều đoàn chuyên gia của các nước trên thế giới đã vào giúp đỡ Việt Nam theo con đường viện trợ phi Chính phủ, gần 400 triệu USD cho các dự án nhân đạo và phát triển trong những năm gần đây. Vi vậy, có thé khang định rằng, nhóm đối tượng này cũng được xem là nhóm đối tượng trọng điểm của thông tin đối ngoại, tuy nhiên, tùy từng nhóm đối tượng cụ thé, chúng ta có cách thức, nội dung thông tin, tuyên truyền phù hợp dé tác động đến nhận thức, và tình cảm của họ, nhằm làm cho bạn bè thế giới ngày càng hiểu ta hơn và tiễn tới ủng hộ ta hơn. Nhóm đối tượng thứ hai là cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (bao gồm kiều bao ta ở nước ngoài; giới hoc giả nghiên cứu; lưu học sinh, sinh viên, người Việt Nam lao động ở nước ngoài.
Có thé nói, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thé tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhìn chung, đại đa sé người Việt Nam ta ở nước ngoài đều hướng về quê hương đất nước. Theo số liệu do Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài cung cấp, hiện có hơn 4 triệu người Việt Nam đang sinh sông, lao động và học tập tại 101 nước va vùng lãnh thd, trong đó khoảng 300.000 người có trình độ đại học trở lên.000 lượt kiều bào về thăm quê hương, đóng góp chuyên môn, đầu tư, kinh doanh, giao lưu văn hóa, nghệ thuật, từ thiện, nhân đạo. 19 Tại Mỹ, hiện có khoảng 2,5 triệu người Việt Nam sinh sống, tập trung chủ yếu tại các khu vực như bang California (tập trung tại các thành phố San Jose, Garden Grove, Los Angeles, Westminster, San Francisco, Texas .) Tại Châu Á, cộng đồng người Việt có gần 1 triệu người, tập trung nhiều nhất ở Đài Loan, Campuchia, Malaysia.
Người Việt Nam có mặt tại các quốc gia này chủ yếu theo 2 diện: xuất khâu lao động và hôn nhân. Riêng về di cư bắt nguồn từ hôn nhân, đến nay số lượng phụ nữ Việt Nam lay chồng Dai Loan chiếm gần 90% tổng số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài. Tại Châu Âu, hiện có trên 700 ngàn người Việt Nam sinh sống, trong đó, tập trung nhiều nhất tại các quốc gia: Pháp (300 ngàn người), Nga (100 ngàn người), Đức (100 ngàn người), Anh (50 ngàn người). Cộng đồng người Việt ở Châu Âu không sống tập trung như tại Hoa Ky mà rải rác ở 37 quốc gia.
Tuy vậy, mức độ liên kết của cộng đồng khá mật thiết do khả năng qua lại dé dang giữa các quốc gia EU. Đặc điểm chính của nhóm cộng đồng người Việt ở Châu Âu chủ yếu kinh doanh buôn bán và các du học sinh. Một số cộng đồng người Việt tại Pháp, Mỹ, Úc ra đi từ những năm chiến tranh nên họ có quan điểm khác biệt về chính trị. Một bộ phận người Việt tại các nước Pháp, Mỹ, Úc vẫn nặng tư tưởng thuyền nhân, nên nhiều người trong số họ tiếp tục tư tưởng “chống Việt” điên cuồng, theo đuôi ý đồ lật độ chính quyền cách mạng trong nước, phản đối sự nghiệp bao vệ, xây dựng và phát triển đất nước của nhân dân ta.
Trong những năm qua, thông tin đến với kiều bào ta ở nước ngoài nhìn chung còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu của bà con Việt kiều. Thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng đa phần chưa đến được với bà con Việt kiều, các sản phẩm thông tin đối ngoại của ta còn manh mún, chưa hấp dẫn cả về hình thức lẫn nội dung. Thế nên, một điều dé nhận thấy khi đi ra nước ngoài, hầu hết kiều bào còn thiếu thông tin, chủ yếu nghe, xem thông tin qua mạng, rồi truyền tin nhau và “tam sao thất bản”, vì không phải ai cũng có thé sử dụng máy tính dé truy cập Internet, đặc biệt là người lớn tuổi. Vì vậy, thông tin bằng hình ảnh có một ý nghĩa quan trọng, là minh chứng sinh động về sự phát triển, đi lên của đất nước ta hiện nay.
- Nhóm đối tượng ở trong nước Nhóm đối tượng này gồm người nước ngoài sinh sống, học tập, làm việc tại Việt Nam, các cơ quan đại diện ngoại giao, tô chức quôc tê, các hãng thông tân báo chí, các nhà 20 đầu tư, khách du lịch nước ngoài (sau đây gọi tắt là người nước ngoài ở Việt Nam) và đông đảo tầng lớp nhân dân trong nước. Người nước ngoài ở Việt Nam là nhóm đối tượng đặc biệt quan trọng, là những “nhà thông tin, tuyên truyền trực tiếp” về hình ảnh của một đất nước Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Tùy theo từng nhóm đối tượng cụ thé mà có nhu cau tìm hiểu thông tin về Việt Nam khác nhau.