CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm, đặc trưng của tín dụng ngân hàng Tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế liên quan đến các giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Về bản chất, mối quan hệ tín dụng có các đặc trưng sau: (i) Tài sản giao dịch bao gồm hai hình thức là tiền hay hiện vật; (ii) Tín dụng phải tuân thủ theo nguyên tắc có hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn; (iii) Giá trị được hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc; (iv) Tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện, có nghĩa là bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Theo từ điển tiếng việt, tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội và các tổ chức tín dụng khác theo nguyên tắc có hoàn trả. Theo Điều 14 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Để đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời trong 7 hoạt động tín dụng, đòi hỏi các ngân hàng phải tuân thủ các nguyên tắc sau: (i) Khách hàng phải cam kết hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn như đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng; (ii) Khách hàng cam kết sử dụng vốn theo đúng mục đích được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, không trái với quy định của pháp luật; (iii) Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án hoặc dự án có hiệu quả [22].
Vai trò tín dụng ngân hàng Đối với nền kinh tế, tín dụng có vai trò thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn và phân bổ lại nguồn lực đầu tư của xã hội vào các lĩnh vực của nền kinh tế một cách có hiệu quả. Là cầu nối giữa bên thừa vốn và bên thiếu vốn tạm thời, tín dụng ngân hàng góp phần điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành một cách liên tục, không bị gián đoạn. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam còn kém phát triển, thị trường vốn và thị trường chứng khoán còn non yếu, tín dụng ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng, được coi là kênh dẫn vốn chủ đạo của nền kinh tế. Với sự hoạt động của hệ thống tín dụng, các nguồn tiền nhàn rỗi của cá nhân và doanh nghiệp được tập trung lại và sau đó tín dụng tiến hành phân phối các nguồn vốn đã được tập trung này nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, lưu thông hàng hóa cũng như nhu cầu tiêu dùng trong toàn xã hội.
Thông qua kênh tín dụng, bằng chính sách tiền tệ thích hợp cho từng giai đoạn nhà nước có thể điều tiết lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế góp phần ổn định tiền tệ, giá cả. Đối với các doanh nghiệp, do đặc trưng của tín dụng là người vay vốn phải hoàn trả cả vốn và lãi đúng thời hạn ghi trong hợp đồng tín dụng, nếu vi phạm phải chịu phạt theo lãi suất quá hạn hoặc phải chịu các biện pháp chế tài khác. Bằng những tác động như vậy nên các doanh nghiệp vay vốn phải thường xuyên quan tâm thực hiện chế độ hoạch toán kinh tế, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đó cũng là điều kiện quyết định đến khả năng hoàn trả vốn vay và tăng tích lũy cho doanh nghiệp. Đối với các ngân hàng, ngân hàng thu được lợi nhuận thông các hoạt động dịch vụ, tư vấn và đặc biệt hoạt động tín dụng.
Ngân hàng hoạt động trên nguyên tắc huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, trong tổ chức và thông qua hoạt 8 động tín dụng để cung cấp vốn cho các nhu cầu khác nhau trong xã hội. Sự chênh lệch giữa tiền lãi thu được từ hoạt động cho vay với tiền lãi phải trả từ hoạt động huy động chính là phần lợi nhuận từ hoạt động tín dụng. Mặc dù đây chưa phải toàn bộ lợi nhuận thu được từ hoạt động ngân hàng nhưng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong tổng lợi nhuận của ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng cũng chứa đựng nhiều rủi ro đối với các ngân hàng.
Thực tế chứng minh rằng có nhiều ngân hàng lớn nhưng do việc quản trị RRTD không tốt đã làm cho ngân hàng bị giảm sút lợi nhuận, thậm chí rơi vào diện phải tái cấu trúc theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Nhìn chung tín dụng của một hệ thống ngân hàng lành mạnh phản ánh năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế quốc gia; mức rủi ro thấp của nền kinh tế chính là điều kiện để kêu gọi các dòng vốn từ bên ngoài đầu tư vào để phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên do các ngân hàng cho khách hàng vay đầu tư sản xuất kinh doanh thuộc nhiều lĩnh vực như xây dựng, sản xuất công nghiệp, thương nghiệp, tiêu dùng, dịch vụ. nên sau khi cho vay thì quyền sở hữu vốn tạm thời tách khỏi quyền sử dụng vốn, do vậy tính chủ động của Ngân hàng kém đi, dễ lâm vào thế bị động đối với người vay vốn và có thể gặp rủi ro mất một phần vốn hay toàn bộ vốn.
Phân loại tín dụng ngân hàng Ngân hàng cung cấp rất nhiều loại tín dụng, cho nhiều đối tượng khách hàng, với những mục đích sử dụng khác nhau. Căn cứ vào thời gian, tín dụng ngân hàng được chia làm ba loại: (i) Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản tín dụng có thời gian cho vay đến 12 tháng. Loại hình tín dụng này thông thường được áp dụng với nhiều loại hình khách hàng dưới hình thức vay hạn mức hay từng lần. Thông thường khách hàng sẽ có một phần tài sản để bảo đảm cho toàn bộ khoản vay; (ii) Tín dụng trung hạn: Là các khoản tín dụng có thời gian cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng.
Đây thường là hình thức ngân hàng cấp tín dụng cho các dự án mua sắm máy móc thiết bị, các dự án xây dựng nhà xưởng, kho bãi… Thông thường tài sản hình thành từ vốn vay sẽ được dùng để thế chấp ngân hàng; (iii) Tín dụng dài hạn: Là các khoản tín dụng có thời gian cho vay từ 60 tháng 9 trở lên. Đây thường là hình thức ngân hàng cấp tín dụng cho các dự án mua sắm dây chuyền thiết bị đồng bộ, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng… Tài sản thế chấp chủ yếu là tài sản hình thành từ vốn vay [22]. Căn cứ vào biện pháp bảo đảm, tín dụng ngân hàng được chia làm hai loại: (i) Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: Là các khoản tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Loại hình tín dụng này đảm bảo cho ngân hàng có độ an toàn cao hơn, khả năng mất vốn thấp hơn do ngân hàng có thể phát mại tài sản để thu hồi vốn trong trường hợp khách hàng không có khả năng thanh toán nợ đến hạn; (ii) Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: Là các khoản tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng không được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
Loại hình tín dụng này khá rủi ro với ngân hàng nên ngân hàng chỉ áp dụng đối với những khách hàng có uy tín, được ngân hàng tín nhiệm và là khách hàng truyền thống, chiến lược của ngân hàng [22]. Rủi ro và phân loại rủi ro trong hoạt động của NHTM 1. Khái niệm Với đặc điểm chính là kinh doanh tiền tệ, thực hiện chức năng chuyển hóa tài sản, huy động và đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế thì NHTM luôn phải đối mặt với những thiệt hại kể cả tài chính hoặc phi tài chính. Theo quan điểm hiện đại, rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM là những tổn thất tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến khả năng đạt được các mục tiêu của NHTM [19].
Phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM Cách phân loại được sử dụng phổ biến nhất là phân loại theo các hoạt động và nguyên nhân gây ra rủi ro. Trong số những rủi ro này, có những rủi ro cần được quản trị theo hướng tối ưu hóa sự đánh đổi giữa rủi ro và thu nhập song lại có những rủi ro cần được quản trị theo hướng tối thiểu hóa rủi ro. Theo đó, 10 ngân hàng thường đối mặt với các rủi ro cơ bản sau: Hình 1: Phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM Tỷ giá Nguồn: Hoàng Huy Hà (2014) a) Rủi ro tín dụng Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ban hành ngày 21 tháng 1 năm 2013 về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD do khách hàng không thực hiện hay không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Hình 2: Phân loại rủi ro tín dụng 11 Nguồn: Hoàng Huy Hà (2014) b) Rủi ro thanh khoản Thanh khoản tại NHTM được hiểu là khả năng đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ tài chính khi các nghĩa vụ này đến hạn, kể cả các khoản chi trả đột xuất.