phần Mở đầu và Kết luận, kết cấu của luận văn gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trịrủi rotín dụngtại NHTM Chƣơng 2: Thực trạng quản trị RRTDtại Agribank Bình Định. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị RRTD tại Agribank Bình Định. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI ROTÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1.
Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Theo khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 4 Luật Các Tổ chức tín dụng(2010) [17]quy định: - Tổ chức tín dụng là DN thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. TCTD bao gồm ngân hàng, TCTD phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. - Ngân hàng là loại hình TCTD có thể đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động NH theo quy định của pháp luật.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. - Ngân hàng thương mại là loại hình NH đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Vai trò Theo Trần Huy Hoàng (2011) [4], Trần Khánh Dƣơng [14]: Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy lực lƣợng sản xuất xã hội phát triển: - Ngân hàng thƣơng mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là công cụ quan trọng thúc đẩy lực lƣợng sản xuất phát triển: Hoạt động kinh doanh tiền tệ với chức năng trung gian tín dụng, NHTM khắc phục những khiếm khuyết của thị trƣờng tài chính, khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế … hình thành nên quỹ cho vay và sử dụng chúng để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Là một kênh phân phối vốn có hiệu quả NHTM tạo điều kiện cho các DN có khả năng tận dụng cơ hội đầu tƣ, mở rộng sản xuất kinh doanh (SXKD), cải tiến qui trình công nghệ, từ đó nâng cao năng suất lao động để có thể đứng vững trong sự cạnh tranh khốc liệt của thị trƣờng.
Với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của mồi quốc gia. - Ngân hàng thƣơng mại là cầu nối giữa DN với thị trƣờng Để có thể đƣa sản phẩm hàng hóa dịch vụ tiếp cận với thị trƣờng đầu ra và 6 tìm kiếm lợi nhuận, các DN cần phải có vốn (yếu tố đầu vào quan trọng, nền tảng của mọi hoạt động) để thực hiện sản xuất. Khi vốn tự có không đủ hoạt động, các DN phải tìm đến các nguồn vốn khác. NHTM sẽ giúp DN giải quyết đƣợc khó khăn bằng nguồn vốn tín dụng.
Nhƣ vậy, NHTM chính là cầu nối đƣa DN đến với thị trƣờng, giúp DN tìm đƣợc vốn đầu vào, bôi trơn hoạt động SXKD và thanh toán để tạo ra thành phẩm cho thị trƣờng. NHTM giúp DN và thị trƣờng gần nhau hơn cả về không gian và thời gian. - Ngân hàng thƣơng mại là công cụ để nhà nƣớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Các NHTM một mặt chịu sự tác động trực tiếp từ các công cụ của chính sách tiền tệ (thị trƣờng mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất…) mặt khác gián tiếp tham gia điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua mối quan hệ với các tổ chức kinh tế, cá nhân về các hoạt động tài chính tín dụng. Thông qua hoạt động của NHTM với các chủ thể khác trong nền kinh tế, mọi thông tin có liên quan đến việc hoạch định chính sách tiền tệ sẽ đƣợc phản hồi lại NHNN Việt Nam, giúp NHNN Việt Nam có thể hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp trong từng thời kỳ để đảm bảo thúc đẩy nền kinh tế tăng trƣởng và phát triển ổn định.
- NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Ngày nay, mồi quốc gia độc lập đều phát triển quan hệ quốc tế đa dạng và phức tạp trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hoá, khoa học công nghệ…, trong đó quan hệ kinh tế đƣợc chú trọng nhất. Áp lực cạnh tranh buộc mỗi quốc gia khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh. Hệ thống NHTM với các nghiệp vụ nhƣ: thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, uỷ thác đầu tƣ, … sẽ giúp nền kinh tế của một quốc gia hòa nhập với phần còn lại của thế giới. Hệ thống NHTM trong nƣớc đã điều tiết tài chính trong nƣớc phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế, đƣa nền tài chính trong nƣớc bắt kịp với nền tài chính quốc tế.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Đặc điểm Thứ nhất, cơ sở quyết định một khoản tín dụng là lòng tin của NH về việc sử dụng vốn vay đúng mục đích của khách hàng và có khả năng hoàn trả nợ vay đúng hạn. Còn ngƣời đi vay thì tin tƣởng vào khả năng kiếm đƣợc tiền trong tƣơng lai để trả nợ gốc và lãi vay. Thứ hai, tín dụng là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền (hiện kim) hoặc tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, chứ không làm thay đổi quyền sở hữu chúng.
Tín dụng cấp cho khách hàng là từ nguồn vốn huy động của 7 NH mà chủ yếu là tiền gửi của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nƣớc. Do đó, khách hàng nhận đƣợc khoản vay chỉ nắm giữ mang tính chất “tạm thời” và sử dụng vào mục đích đã cam kết với NH. Thứ ba, tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải hoàn trả vô điều kiện. NH thực hiện chức năng “đi vay để cho vay”, do đó mọi khoản tín dụng đều phải có thời hạn để đảm bảo cho NH hoàn trả vốn huy động khi khách hàng gửi tiền cần rút hoặc NH lại sử dụng nguồn vốn đó cho khách hàng khác vay.
Chính vì khách hàng không phải là chủ sở hữu thực sự của số tiền vay nên đƣơng nhiên phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay này cho NH. Thứ tư, giá trị tín dụng không những đƣợc bảo toàn mà còn đƣợc nâng cao nhờ lợi tức tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, bởi khách hàng phải trả giá cho quyền sử dụng vốn vay. Khoản lợi tức này luôn dƣơng để bù đắp chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho NH.
Thứ năm, đặc trƣng bản chất nhất của tín dụng là tiềm ẩn rủi ro cao. Cho dù khách hàng có thiện chí trả nợ nhƣng nếu gặp môi trƣờng kinh doanh bất lợi, biến động các chỉ số kinh tế, sự cố bất khả kháng… thì cũng dễ gây ra khó khăn trong việc trả nợ và tất yếu NH gặp RRTD. Phân loại Theo Thông tƣ số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đối với khách hàng [19], quy định tín dụng ngân hàng phân thành nhiều loại khác nhau tùy theo các tiêu thức phân loại khác nhau: * Dựa vào mục đích vay vốn của khách hàng, theo tiêu thức này tín dụng NH có thể phân chia thành các loại nhƣ sau: - Tín dụng phục vụ nhu cầu đời sống là việc tổ chức tín dụng cung cấp tín dụng đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó. - Tín dụng phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác (sau đây gọi là hoạt động kinh doanh) là việc tổ chức tín dụng cấp tín dụng đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngoài các hoạt động tín dụng nêu trên, bao gồm nhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân đó vào nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, DN tƣ nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ DN tƣ nhân.
* Dựa vào thời hạn tín dụng, theo tiêu thức này tín dụng NH có thể phân chia thành các loại nhƣ sau: 8 - Tín dụng ngắn hạn: là hình thức tín dụng có thời hạn tối đa 01 năm. Mục đích của tín dụng này là thƣờng tài trợ cho việc đầu tƣ vào tài sản lƣu động. - Tín dụng trung hạn: là hình thức tín dụng có thời hạn trên 01 năm và tối đa 05 năm. Mục đích của tín dụng này là thƣờng tài trợ cho việc đầu tƣ vào tài sản cố định.
- Tín dụng dài hạn: là hình thức tín dụng có thời hạn trên 05 năm. Mục đích của tín dụng này là thƣờng tài trợ cho các dự án. * Căn cứ đảm bảo tín dụng, theo tiêu thức này tín dụng NH có thể phân chia thành các loại nhƣ sau: - Tín dụng có đảm bảo: là tín dụng mà theo đó khoản tín dụng đƣợc đảm bảo bằng tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh bằng bên thứ ba. - Tín dụng không có đảm bảo: là tín dụng mà theo đó khoản tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh bằng bên thứ ba.
* Căn cứ đối tƣợng vay, theo tiêu thức này tín dụng NH có thể phân chia thành các loại nhƣ sau: Tín dụng đối với đối tƣợng khách hàng là pháp nhân, pháp nhân đƣợc thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân đƣợc thành lập ở nƣớc ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam; Tín dụng đối với đối tƣợng khách hàng làcá nhân, cá nhân có quốc tịch Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nƣớc ngoài. * Tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành các loại nhƣ sau: Cho vay từng lần; Cho vay hợp vốn; Cho vay lƣu vụ; Cho vay theo hạn mức; Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng; Cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán; Cho vay quay vòng;Cho vay tuần hoàn. * Dựa vào các ngành kinh tế, theo tiêu thức này tín dụng NH có thể phân chia thành các loại nhƣ sau: Tín dụng trong lĩnh vực công nghiệp; Tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp; Tín dụng trong lĩnh vực xây dựng; Tín dụng trong lĩnh vực dịch vụ… 1. Vai trò * Đối với khách hàng: - Không phải lúc nào các cá nhân và tổ chức kinh tế cũng có sẵn một lƣợng vốn nhất định để tài trợ cho hoạt động chi tiêu, mua sắm hay duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đặc biệt là đối với các trƣờng hợp ngƣời có nhu cầu về vốn là những ngƣời lao động có thu nhập thấp hoặc các hộ gia đình sản xuất, doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.