Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Bình Định. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Bình Định. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm Theo ủy ban Basel (Hiệp ước quốc tế về an toàn vốn giảm sát hoạt động ngân hàng) thì “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết. Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khỉ hoàn trả nợ và lãi”. Theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 của Thống đốc NHNN Việt Nam thì rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Theo Joel Bessis (2012) cho rằng: “Rủi ro tín dụng là rủi ro quan trọng nhất trong ngân hàng. Đó là rủi ro đối tác sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Theo các quy định, RRTD chia thành một vài thành phần rủi ro tín dụng: + Rủi ro vỡ nợ; + Rủi ro giảm uy tín; + Rủi ro nguy cơ, tức là sự bất trắc về giá trị tương lai của khoản tiền có thể thua lỗ vào thời điểm vỡ nợ chưa biết; + Thua lỗ do vỡ nợ (LGD) thường ít hơn lượng tiền phải trả bởi vì sự phục hồi nhờ đảm bảo hay thế chấp của bên thứ ba; + Rủi ro đối tác là hình thức RRTD cụ thể xuất phát từ phái sinh, có thể chuyền đổi từ đối tác này sang đối tác khác”. Từ các định nghĩa trên ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tín dụng như sau: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
9 Như vậy, có thể nói rằng RRTD có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của ngân hàng. Đây còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng Theo Nguyễn Minh Kiều (2012) nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được chia thành: Rủi ro danh mục và rủi ro giao dịch.
- Rủi ro danh mục: Là loại hình RRTD phát sinh trong việc quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, vừa mang tính chất chủ quan, lại vừa tác động của các nhân tố khách quan, bao gồm: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc nghành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của KH vay vốn. Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố bên trong của mỗi KH vay vốn, ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực hoạt động; + Rủi ro tập trung: Là rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cũng một loại hình cho vay rủi ro cao.
- Rủi ro giao dịch: Là một hình thức RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: Rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng; + Rủi ro bảo đảm: Rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: Rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
10 Nếu căn cứ vào tính chất tác động, RRTD được chia thành: rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan - Rủi ro khách quan: Là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. - Rủi ro chủ quan: Là rủi ro do nguyên nhân chủ quan thuộc về người vay và người cho vay vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác. Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và mục tiêu Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng phát sinh khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng.
Tất cả các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng bao gồm cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, cho thuê tài chính, chiết khấu chứng từ có giá, tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ dự án và bảo lãnh đều chứa đựng rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, khi bàn đến rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng người ta thường xem rủi ro tín dụng phát sinh khi cho vay là ví dụ điển hình. Vì vậy, rủi ro tín dụng được đề cập trong luận văn này là rủi ro trong cho vay. Rủi ro nói chung và RRTD nói riêng là thực trạng luôn tồn tại trong kinh doanh.
Vậy tại sao cần phải quản trị rủi ro? Vì rủi ro và lợi nhuận bao giờ cũng chứa đựng trong bản thân chúng hai nghịch lý: (1) Lợi nhuận cao thì rủi ro cao, và (2) ngược lại không có rủi ro cao lợi nhuận sẽ không cao, tức là không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận rất thấp (Nguyễn Minh Kiều, 2010). Trong hoạt động tín dụng cũng vậy, ngân hàng biết rằng cho vay là rủi ro, vậy tại sao ngân hàng phải cho vay để rồi phải quản lý rủi ro? Tương tự trong cuộc sống ai cũng biết rằng chơi hụi là rủi ro, thế nhưng tại sao nhiều người vẫn cứ chơi hụi? Có ít nhất hai lý do để giải thích cho điều này. Thứ nhất, do rủi ro là sự không chắc chắn. Nếu biết chắc chắn cho vay sẽ mất vốn thì ngân hàng sẽ không cho vay.
Thứ hai, do rủi ro vừa tiềm ẩn thiệt hại vừa tiềm ẩn lợi nhuận. Nếu biết chắc cho vay không có lợi nhuận thì ngân hàng đã không cho vay. 11 Do đó, cấp tín dụng là việc ngân hàng cần làm để tìm kiếm lợi nhuận. Nhưng rủi ro của việc tìm kiếm lợi nhuận này là khả năng khách hàng không trả được vốn gốc và lãi.
Vì thế cần quản trị rủi ro tín dụng để quản lý thiệt hại, đồng nghĩa là để tối đa hoá lợi nhuận và tối đa hoá giá trị cho cổ đông (Nguyễn Minh Kiều, 2010). Quản trị RRTD là tiến trình của nhà quản trị bao gồm nhận dạng, đánh giá mức độ rủi ro tiềm ẩn mà ngân hàng phải đối mặt; đồng thời, lựa chọn, thực thi những biện pháp, công cụ thích hợp nhằm đối phó với rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại [21]. Dựa vào lý luận trên, có thể hiểu Quản trị rủi ro tín dụng liên quan đến việc quản lý chặt chẽ mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận; kiểm soát và giảm thiểu rủi ro tín dụng bằng các biện pháp và các công cụ của ngân hàng như: Nhận dạng rủi ro, đo lường rủi ro, sàng lọc và giám sát, xử lý rủi ro, hạn chế và phòng ngừa rủi ro. Mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng Quản trị RRTD nhằm tối đa hoá tỷ lệ thu hồi vốn, duy trì một mức độ rủi ro có thể chấp nhận được, hạ thấp rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng và mức độ an toàn trong kinh doanh.
Đồng thời đảm bảo RRTD trong phạm vi ngân hàng có thể chấp nhận được thông qua các chính sách, biện pháp quản lý, giám sát hoạt động tín dụng hiệu quả, khoa học. Nội dung quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại Với mục tiêu quản trị RRTD như trên thì công tác quản trị RRTD tại NHTM bao gồm các nội dung sau: 1. Nhận diện rủi ro Nhận diện rủi ro tín dụng bao gồm: Theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và quy trình cho vay, từ đó thống kê các dạng rủi ro tín dụng, nguyên nhân từng thời kỳ và dự báo được nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây ra rủi ro tín dụng. Để nhận diện rủi ro, các nhà quản trị phải lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi ro đã, đang và sẽ có thể xuất hiện bằng các phương pháp: Lập bảng câu hỏi nghiên 12 cứu, tiến hành điều tra, phân tích các hồ sơ tín dụng, đặc biệt quan tâm điều tra các hồ sơ đã có vấn đề.
Kết quả phân tích cho ra những dấu hiệu, biểu hiện, nguyên nhân RRTD, từ đó nhằm tìm ra biện pháp hữu hiệu nhất để phòng chống rủi ro. Việc nhận diện rủi ro tín dụng là một hoạt động xuyên suốt trong quá trình thẩm định và đóng vai trò quan trọng bởi nó là tiền đề giúp cho ngân hàng có thể đưa ra quyết định có nên cấp tín dụng cho khách hàng hay không.