phần mở đầu, trong mục này đề cập đến tín dụng NHTM, cụ thể tín dụng NHTM phản ánh mối quan hệ tín dụng giữa bên cho vay là NHTM và bên đi vay (còn gọi là khách hàng) là các chủ thể khác trong xã hội. Căn cứ vào tiêu chí “chủ thể” tham gia quan hệ tín dụng với NHTM, tín dụng NHTM đƣợc chia thành 02 loại, đó là tín dụng doanh nghiệp 9 và tín dụng cá nhân, trong đó doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh [6]. Nhƣ vậy, có thể hiểu tín dụng doanh nghiệp của NHTM là một hình thức cấp tín dụng của NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp để tiến hành sản xuất kinh doanh. Đặc điểm tín dụng doanh nghiệp Khái niệm tín dụng có thể rút ra 03 đặc điểm chủ yếu của tín dụng, đó là: Tín dụng dựa trên cơ sở lòng tin; Tín dụng có tính thời hạn trong chuyển nhƣợng một lƣợng giá trị hay chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị; Tín dụng có tính hoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi khi đến hạn.
Tín dụng doanh nghiệp là một loại hình tín dụng nên trƣớc hết có đầy đủ 03 đặc điểm trên đây. Bên cạnh đó, do quy định thành lập doanh nghiệp và quy mô hoạt động kinh doanh nên tín dụng doanh nghiệp có một số đặc điểm và nét riêng biệt thể hiện sau đây: * Tín dụng khách hàng doanh nghiệp (KHDN) số lƣợng không lớn, chiếm tỷ trọng thấp trong tổng số khách hàng vay vốn tại NHTM nhƣng dƣ nợ tín dụng cao và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dƣ nợ tín dụng NHTM bởi tính chất và quy mô hoạt động của doanh nghiệp luôn cần một lƣợng vốn lớn, cần có sự tham gia, bổ sung vốn do vốn chủ sở hữu không đáp ứng đủ, theo đó quy mô/01 khoản tín dụng thƣờng rất lớn, nhất là trong tín dụng trung dài hạn. Mặt khác, nhu cầu vốn tín dụng của doanh nghiệp chịu ảnh hƣởng rất lớn của diễn biến kinh tế vĩ mô, sự thăng trầm của nền kinh tế. * Hoạt động kinh doanh và quản lý kinh doanh của doanh nghiệp đa dạng, phức tạp, có những nội dung hoạt động theo chỉ đạo của Nhà nƣớc trong những lĩnh vực/vùng miền có nhiều khó khăn, tƣ nhân khó hoặc không thể thực hiện và quản lý Nhà nƣớc về doanh nghiệp đƣợc chia thành nhiều nhóm ngành với nhiều cấp độ khác nhau nên đối tƣợng tín dụng/cho vay cụ thể cần đa dạng, phong phú để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp.
10 * Lãi suất tín dụng doanh nghiệp thƣờng thấp hơn tín dụng cá nhân do giá trị 01 khoản vay lớn nên NHTM có thể tiết kiệm đƣợc chi phí, ngoài ra thông qua tín dụng, NHTM có thể thu hút doanh nghiệp sử dụng các dịch vụ khác của NHTM và một số doanh nghiệp cần đƣợc hỗ trợ lãi suất do hoạt động kinh doanh trong những lĩnh vực khó khăn, cần có cơ chế chính sách ƣu đãi. * Rủi ro tín dụng doanh nghiệp khi xảy ra thƣờng gây hậu quả lớn bởi quy mô tín dụng và mức độ ảnh hƣởng của doanh nghiệp đối với nền kinh tế và đời sống của nhiều ngƣời lao động. Qua các đặc điểm trên các vấn đề đặt ra cần đƣợc NHTM quan tâm khi cấp tín dụng doanh nghiệp, trong đó thẩm định nhƣ sau: - Thƣờng xuyên nghiên cứu cung cấp sản phẩm tín dụng mới phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và cao hơn của doanh nghiệp; - Thực hiện rà soát, điều chỉnh các quy định về tín dụng cho phù hợp với thực tiễn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ vừa đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp vừa bảo đảm an toàn và nâng cao chất lƣợng, hiệu quả tín dụng của NHTM; - Thẩm định tín dụng doanh nghiệp có ƣu điểm, thuận lợi hơn thẩm định cho vay KHCN về thông tin, song lại phức tạp hơn về nội dung, nhất là thẩm định các dự án, phƣơng án kinh doanh lớn. Vì vậy, NHTM cần bố trí cán bộ thẩm định phù hợp và thƣờng xuyên bồi dƣỡng nâng cao trình độ cán bộ thẩm định, thực hiện phối hợp với các cơ quan hữu quan để thẩm định những vấn đề phức tạp nhƣ phƣơng diện kỹ thuật của các dự án đầu tƣ; - Tăng cƣờng đầu tƣ công nghệ trang thiết bị nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thẩm định tín dụng doanh nghiệp vừa quản lý cho vay tốt hơn và tiết kiệm chi phí, giảm lãi suất cho vay; - Tăng cƣờng kiểm soát rủi ro tín dụng doanh nghiệp, trong đó cần nâng cao chất lƣợng thẩm định trƣớc khi cho vay, thực hiện tƣ vấn doanh nghiệp, nhất là những DNN&V và thƣờng xuyên theo dõi sát sao sau giải ngân, chủ động phối hợp 11 với doanh nghiệp xử lý vƣớng mắc phát sinh và tăng cƣờng đôn đốc trong thu hồi nợ và xử lý kịp thời nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh [14].
Quy trình và sản p ẩm t n dụn doan n ệp c ủ ếu 1. Quy trình tín dụng Thực chất tín dụng NHTM nói chung và doanh nghiệp nói riêng là nhằm giải quyết mâu thuẫn “cung- cầu” về vốn giữa NHTM với khách hàng nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Mặt khác, tín dụng là vấn đề phức tạp luôn chứa đựng, tiềm ẩn nhiều rủi ro do nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan từ phía NHTM, từ phía khách hàng và từ môi trƣờng kinh doanh (sẽ đƣợc trình bày cụ thể trong mục sau) và khi xảy ra rủi ro có thể dẫn đến những hệ lụy khó lƣờng. Vì vậy, quản lý tín dụng bảo đảm vừa tạo thuận lợi cho khách hàng vay vốn vừa bảo đảm an toàn và hiệu quả kinh doanh của NHTM là yêu cầu của cơ quan quản lý (Ngân hàng Trung Ƣơng/Ngân hàng Nhà nƣớc) và của NHTM.
Theo đó, tín dụng cần triển khai cụ thể, rõ ràng, minh bạch theo quy trình/các bƣớc nhƣ sơ đồ 1. Quy trìn cấp t n dụn của n n n t ƣơn mạ Nội dung cơ bản triển khai thực hiện quy trình trên nhƣ sau: * Bƣớc 1. Thông thƣờng khi có nhu cầu vay vốn NHTM, khách hàng sẽ lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng gửi NHTM theo quy định, hồ sơ thƣờng gồm 03 12 loại/nhóm giấy tờ/hồ sơ: Giấy tờ/hồ sơ pháp lý; Giấy tờ/hồ sơ kinh tế; Giấy tờ/hồ sơ bảo đảm tiền vay. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng từ nhiều đối thủ, các NHTM thƣờng chủ động tìm kiếm khách hàng và hƣớng dẫn lập hồ sơ tín dụng.
* Bƣớc 2 Thẩm định tín dụng. NHTM sẽ phân công cán bộ thẩm định tín dụng tiến hành thẩm định hồ sơ tín dụng theo quy trình và nội dung quy định của NHTM, từ đó lập tờ trình kết quả thẩm định cho cấp có thẩm quyền ra quyết định chấp thuận/từ chối cấp tín dụng. * Bƣớc 3: Ra quyết định tín dụng. Căn cứ vào tờ trình kết quả thẩm định tín dụng của cán bộ thẩm định, cấp có thẩm quyền theo quy định của NHTM ra quyết định đồng ý/từ chối cấp tín dụng đối với hồ sơ đƣợc thẩm định và ra thông báo bằng văn bản cho khách hàng.
Nếu chấp thuận cấp tín dụng, NHTM sẽ dự thảo chi tiết, cụ thể hợp đồng tín dụng theo quy định để thỏa thuận với khách hàng ký hợp đồng tín dụng/vay vốn. * Bƣớc 4 Giải ngân. Căn cứ vào thỏa thuận hợp đồng tín dụng/vay vốn, NHTM sẽ thực hiện giải ngân bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản cho khách hàng theo hạn mức tín dụng đã ký kết trong hợp đồng tín dụng và quy định về quản lý thanh toán tiền mặt. * Bƣớc 5 Giám sát tín dụng.
Cán bộ tín dụng thực hiện theo dõi, kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay thực tế của khách hàng, tình hình hiện trạng tài sản bảo đảm, tình hình tài chính của khách hàng, thực địa cơ sở kinh doanh, … từ đó đánh giá mức độ chấp hành các quy định trong hợp đồng tín dụng của khách hàng và phát hiện kịp thời có các biện pháp xử lý thích hợp khi có vấn đề nảy sinh, đảm bảo khả năng thu hồi nợ. * Bƣớc 6 Thanh lý hợp đồng. Đến khi hết thời hạn cho vay theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng/vay vốn, cán bộ tín dụng/cán bộ có liên quan đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành thu nợ và tái cấp tín dụng (nếu khách hàng có nhu cầu vay tiếp) hoặc xử lý nợ quá hạn, nợ có vấn đề trong trƣờng hợp khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận cam kết, bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Quy trình tín dụng trên cho thấy ý nghĩa, tầm quan trọng và mối quan hệ chặt 13 chẽ giữa các bƣớc, thực hiện tốt bƣớc trƣớc là tiền đề thuận lợi cho bƣớc sau tiếp theo và trong mỗi bƣớc luôn xác định nội dung cơ bản còn nội dung chi tiết trong mỗi bƣớc cần/có thể đƣợc quy định linh hoạt theo từng sản phẩm tín dụng trong từng thời kỳ cụ thể [6].
Mặc dù mỗi bƣớc đều có ý nghĩa và tầm quan trọng riêng, song có thể khẳng định nếu bƣớc 2 thực hiện không tốt, có kết quả thiếu chính xác, nhất là những sai sót về thẩm định hồ sơ kinh tế sẽ dẫn đến sai lầm trong quyết định tín dụng, đó là chấp thuận những hồ sơ “kém chất lƣợng” dẫn đến nợ quá hạn, nợ xấu và khó khăn trong quá trình xử lý và từ chối những hồ sơ có khả năng trả nợ. Vì vậy, “thẩm định” luôn đóng vai trò quan trọng có ý nghĩa then chốt trong quy trình tín dụng và trong đó thẩm định hồ sơ kinh tế/năng lực tài chính luôn là nội dung trọng tâm trong thẩm định tín dụng doanh nghiệp. Sản phẩm tín dụng doanh nghiệp chủ yếu Tín dụng NHTM đối với khách hàng doanh nghiệp bao gồm các sản phẩm chủ yếu/truyền thống nhƣ sau: * Sản phẩm tín dụng theo thời gian cho vay bao gồm: - Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản tín dụng có thời hạn đến 12 tháng nhằm đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lƣu động tạm thời thiếu hụt trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; - Tín dụng trung dài hạn: Là các khoản tín dụng đáp ứng nhu cầu mở rộng cơ sở SXKD, tăng cƣờng, đổi mới máy móc, trang thiết bị nâng cao năng lực SXKD và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tín dụng trung hạn có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng, tín dụng dài hạn có thời hạn cho vay trên 60 tháng.