phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, các Phụ lục, đề tài gồm 3 chƣơng có nội dung nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ngãi Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ngãi. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Quản trị rủi ro tín dụng là vấn đề đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cũng nhƣ các nhà lãnh đạo ngân hàng. Thông qua báo cáo thực tế thu thập đƣợc trên website của Vietcombank, các bài cáo, báo cáo nội bộ của Vietcombank,… tác giả sử dụng số liệu và thông tin đó làm cơ sở để phân tích bài viết của mình. Đồng thời, tác giả cũng tham khảo thêm một số tài liệu nhƣ: - Peter S.
Rose (2004), Quản trị Ngân hàng thƣơng mại, Nhà xuất bản Tài Chính, Hà Nội. Cuốn sách cung cấp cho tác giả cơ sở lý luận về một số loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng nhƣ rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trƣờng, rủi ro lãi suất, rủi ro thu nhập, rủi ro phá sản. - Theo tài liệu giảng dạy kinh tế Fulbright của TS.Vũ Thành Tự Anh (2013) về “Xây dựng ngân hàng trung ƣơng hiện đại”, trong các chức năng của NHTW nhƣ điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá, quản lý dự trữ 5 ngoại hối, là ngân hàng của các NHTM thì chức năng giám sát hệ thống tài chính đƣợc xem là chức năng tối quan trọng nhằm quản lý rủi ro trong hệ thống tài chính thông qua cấp phép thành lập, yêu cầu sát nhập, giải thể, ban hành các quy định quản trị rủi ro và đảm bảo an toàn trong hoạt động vốn các quy định về công bố thông tin,… - Tác giả Abhiman Das và Saibal Gosh (2007) đã nhận định sự cạnh tranh giữa các ngân hàng tạo động lực đổi mới và nâng cao cách thức hoạt động của từng ngân hàng ngày càng tốt hơn. Tuy nhiên, sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng và các trung gian tài chính khác tạo ra những quy định dƣới chuẩn trong cấp tín dụng ngân hàng.
Để bù đắp khoản lợi nhuận bị mất đi, các nhà quản lý phải hy sinh mục tiêu chuẩn hóa thẩm định tín dụng và tăng trƣởng tín dụng thiếu kiểm soát làm tổn hại chất lƣợng tín dụng trong tƣơng lai, và những khoản tín dụng này sẽ trở thành nợ xấu. Từ những giá trị tham khảo của các tài liệu, công trình nghiên cứu cùng với thực tế công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng là những cơ sở lý luận và thực tiễn giúp tác giả thực hiện đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thƣơng VN – CN Quảng Ngãi”. Thời gian nghiên cứu tác giả thực hiện là giai đoạn 2017 đến 6 tháng đầu năm 2020, sau khi VCB đã cổ phần hóa và ổn định mô hình tổ chức kinh doanh, đồng thời VCB cũng hoàn thành việc tái cơ cấu ngân hàng lần thứ nhất (2011-2015). Việc phân tích, đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân nhằm đƣa ra những giải pháp, đề xuất chính sách cho giai đoạn phát triển tiếp theo (2021-2025) là phù hợp và mang tính thời sự.
Quy trình hóa quản trị rủi ro tín dụng của hệ thống VCB bao gồm các bƣớc đầy đủ của quy trình tín dụng từ khâu thẩm định khoản vay, quản lý khoản vay, kiểm soát sau cho vay, trích lập dự phòng và xử lý rủi ro đến khâu 6 thu hồi nợ xấu. Trên cơ sở đó, đề xuất bổ sung chức năng, nhiệm vụ cụ thể cho một số đơn vị kinh doanh cũng nhƣ phòng ban liên quan nhằm đảm bảo quản trị rủi ro hiệu quả cho ngân hàng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm hoạt động tín dụng ngân hàng Theo sách các nƣớc thuộc kinh tế thị trƣờng, “tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả theo thời gian đã thỏa thuận” [5]. “ Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng (TCTD), với các nhà doanh nghiệp và cá nhân (bên đi vay), trong đó các TCTD chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho TCTD khi đến hạn thanh toán [7]. Trong nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò là một định chế tài chính nên trong quan hệ tín dụng với các nhà doanh nghiệp và cá nhân, ngân hàng vừa là ngƣời cho vay, vừa là ngƣời đi vay. Với tƣ cách là ngƣời đi vay ngân hàng nhận tiền gửi của các nhà doanh nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội.
Trái lại, với tƣ cách là ngƣời cho vay thì ngân hàng cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và cá nhân. Phân loại tín dụng ngân hàng Theo Nguyễn Thị Hoài Thƣơng (2012), tín dụng ngân hàng đƣợc phân loại nhƣ sau: - Căn cứ thời hạn cho vay, tín dụng đƣợc phân thành: + Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn không quá 12 tháng 8 + Tín dụng trung hạn: Có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng + Tín dụng dài hạn: Có thời hạn cho vay lớn hơn 60 tháng - Căn cứ vào mục đích cho vay, tín dụng đƣợc phân thành: + Tín dụng sản xuất và lƣu thông hàng hóa: Là loại tín dụng dành cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất hàng hóa và lƣu thông hàng hóa. + Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng dành cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nhƣ mua sắm, xây dựng nhà cửa, xe cộ. - Căn cứ vào đối tượng khách hàng, tín dụng đƣợc phân thành hai loại: + Tín dụng cá nhân: Phục vụ đời sống nhƣ: Vay mua nhà, mua ôtô, du học, kinh doanh, phục vụ đời sống cá nhân.
+ Tín dụng doanh nghiệp: Phục vụ các khách hàng doanh nghiệp, nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh nhƣ: Thanh toán công nợ khác (trừ trƣờng hợp vay trả nợ ngân hàng khác), cho vay bổ sung vốn lƣu động, mua sắm tài sản. - Căn cứ vào đối tượng tín dụng, tín dụng gồm: + Tín dụng vốn lƣu động: Là loại tín dụng đƣợc dùng hình thành vốn lƣu động của các tổ chức kinh doanh + Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng đƣợc dùng hình thành tài sản cố định. Căn cứ vào tính chất đảm bảo, tín dụng gồm: + Tín dụng có bảo đảm: Là các khoản vay phát ra đều có tài sản thế chấp tƣơng đƣơng nhƣ: cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh. + Tín dụng không có bảo đảm: Là loại tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp.
Khách hàng phải đảm bảo có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín với ngân hàng… 9 Căn cứ vào lãnh thổ hoạt động tín dụng, tín dụng gồm: + Tín dụng nội địa: Là quan hệ tín dụng phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. + Tín dụng quốc tế: Là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các quốc gia với nhau hoặc giữa một quốc gia với một tổ chức tài chính – tín dụng quốc tế. RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng a.
Khái niệm rủi ro tín dụng NHTM Rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hƣớng tập trung chủ yếu vào các hoạt động tín dụng. Đây là rủi ro lớn nhất và thƣờng xuyên xảy ra, có thể khiến ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng. ” Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [11]. “ Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả đƣợc nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
Rủi ro tín dụng là khả năng tiềm ẩn có thể gây tổn thất về vốn và thu nhập cho ngân hàng phát sinh khi đối tác không đáp ứng đƣợc một phần hoặc toàn bộ các điều khoản của hợp đồng tín dụng hay không thực hiện đầy đủ nhƣ đã thỏa thuận theo các điều khoản của hợp đồng tín dụng. Rủi ro tín dụng xuất hiện trong quá trình cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán và các hình thức cấp tín dụng khác của ngân hàng [16]. 10 Tóm lại, rủi ro tín dụng là nguy cơ mà ngƣời đi vay hoặc đối tác của ngân hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết. Đặc điểm của rủi ro tín dụng - Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp: tính chất đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng biểu hiện ở sự đa dạng và phức tạp của các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, cũng nhƣ hậu quả do rủi ro tín dụng gây ra [17].
Khi thực hiện phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng cần xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và hậu quả của rủi ro để đƣa ra biện pháp phù hợp. - Rủi ro mang tính tất yếu, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại. Hoạt động kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro (chủ yếu là rủi ro tín dụng) ở mức phù hợp để đạt đƣợc mức lợi nhuận tƣơng ứng [17].