Chương 1: Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro rín dụng của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh - Sở Giao dịch Đồng Nai Chương 3: Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh - Sở Giao dịch Đồng Nai 14 CHƢƠNG 1 RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về tín dụng ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng thuơng mại Trong hoạt động của NHTM, tín dụng đóng vai trò quan trọng và là một trong những nguồn thu lớn nhất.
Tín dụng thƣờng chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng tài sản của ngân hàng. Ngân hàng thuơng mại (NHTM) cung cấp tín dụng thông qua mối quan hệ TD, trong đó NHTM đóng vai trò bên cho vay và các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế là bên vay. Ngân hàng thuơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng (điều 4, luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12). Điểm 12 điều 4 của luật này cũng quy định: Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Đặc điểm tín dụng ngân hàng thuơng mại Tín dụng NHTM có những đặc điểm đáng chú ý, ảnh hƣởng đến quá trình cung cấp và quản lý TD. Đầu tiên, tín dụng NHTM đƣợc thể hiện thông qua hình thức cho vay, với tính linh hoạt và khả năng đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tƣợng trong nền kinh tế. Điều này mở rộng phạm vi hoạt động của ngân hàng và tạo điều kiện cho sự phát triển kinh doanh. Quyền sở hữu vốn cho vay không chỉ thuộc về một cá nhân hoặc tổ chức nhất định, mà là kết quả của việc huy động vốn từ nhiều thành phần xã hội.
15 Thứ hai, tín dụng NHTM phụ thuộc vào sự thay đổi của các yếu tố kinh tế và các nhân tố hình thành nền kinh tế thị trƣờng. Tỷ giá, lãi suất, nguồn nguyên liệu và các yếu tố khác ảnh hƣởng đến hoạt động TD. Trong thời kỳ phát triển kinh tế, nhu cầu vay vốn tăng lên cho mục đích sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong thời gian suy thoái kinh tế, ngƣời vay thƣờng hạn chế việc vay mƣợn từ NHTM.
Thứ ba, tín dụng NHTM dựa trên lòng tin. Tín dụng bắt nguồn từ sự tin cậy và tín nhiệm giữa ngƣời cho vay và ngƣời vay. Ngân hàng chỉ cấp TD khi tin tƣởng KH sẽ sử dụng vốn vay một cách hiệu quả, đúng mục đích và có khả năng trả nợ đúng hạn. Điều này đòi hỏi NHTM phải tiến hành phân tích kỹ lƣỡng KH trƣớc khi quyết định cho vay.
Thứ tƣ, tín dụng NHTM mang theo rủi ro cao. Khả năng thu hồi TD không chỉ phụ thuộc vào khả năng và ý chí trả nợ của khách hàng, mà còn bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố khách quan nhƣ biến động giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát và các sự kiện bất khả kháng. Khi những yếu tố này thay đổi mà KH không thích ứng kịp thì có thể gây khó khăn trong quản lý vốn và tạo ra rủi ro TD cho NHTM. Thứ năm, tín dụng NHTM là việc chuyển giao một giá trị nhất định với thời hạn và yêu cầu hoàn trả xác định.
NHTM hoạt động nhƣ một trung gian tài chính, thực hiện chức năng đi vay để cho vay. Do đó, mọi khoản tín dụng của NHTM đều có thời hạn xác định để đảm bảo khả năng hoàn trả vốn huy động từ dân cƣ và các tổ chức kinh tế khác. Tín dụng NHTM cũng yêu cầu KH có khả năng hoàn trả, bao gồm cả trả gốc và lãi suất, nhằm bảo đảm hoạt động và tạo lợi nhuận cho NHTM. Trên cơ sở các đặc điểm trên, nghiên cứu về QTRRTD trong HDBank - SGD Đồng Nai sẽ tập trung vào việc hiểu rõ và đề xuất các biện pháp quản lý RRTD hiệu quả.
Các hình thức cấp tín dụng ngân hàng thuơng mại Trong hoạt động tín dụng, NHTM sử dụng một số hình thức khác nhau để cấp TD cho khách hàng. Mỗi hình thức này có đặc điểm riêng, phục vụ cho các mục đích và nhu cầu tài chính khác nhau. Hình thức đầu tiên là cho vay, là hình thức TD phổ biến nhất. NHTM trao hoặc cam kết trao một số tiền nhất định cho KH sử dụng cho mục đích cụ thể trong 16 một khoảng thời gian đã thỏa thuận.
Nguyên tắc hoạt động của hình thức này dựa trên việc KH phải hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc và lãi suất theo thỏa thuận ban đầu. Hình thức tiếp theo là chiết khấu, trong đó NH mua công cụ chuyển nhƣợng hoặc giấy tờ có giá trị từ ngƣời thụ hƣởng. NH thực hiện việc mua trƣớc trƣớc khi hạn thanh toán đến, và sau đó nhận lại giá trị đầy đủ từ ngƣời thụ hƣởng. Bảo lãnh là hình thức TD mà NHTM cam kết thay mặt KH thực hiện nghĩa vụ tài chính khi KH không thể hoàn thành hoặc không hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ mà họ đã cam kết.
Trong trƣờng hợp này, khách hàng sẽ phải chịu nợ và hoàn trả cho NH theo thỏa thuận. Hình thức bao thanh toán là khi NHTM cung cấp TD cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng bằng cách mua lại các khoản phải thu hoặc phải trả từ việc mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ theo hợp đồng tƣơng ứng. Hình thức cho thuê tài chính là khi NHTM cung cấp tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê tài sản theo hợp đồng cho thuê tài chính. Ngân hàng sử dụng vốn của mình để mua tài sản theo yêu cầu của khách hàng và cho phép KH sử dụng tài sản đó.
Khách hàng sẽ thanh toán tiền thuê theo các điều khoản và thời hạn quy định trong hợp đồng. Ngoài ra, NHTM còn sở hữu nhiều hình thức TD khác, phù hợp với các yêu cầu và cơ hội đặc biệt từ thị trƣờng hoặc KH. Điều này cho phép NH đáp ứng đa dạng nhu cầu tài chính và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình phát triển kinh doanh và đầu tƣ. Vai trò của tín dụng ngân hàng thuơng mại Tín dụng NHTM đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế.
Dƣới đây là những vai trò chính của tín dụng NHTM: Thứ nhất, tín dụng đáp ứng yếu tố tiềm tàng của nền kinh tế. Nó cung cấp nguồn vốn cần thiết để duy trì chu kỳ tái sản xuất và hỗ trợ hoạt động phát triển kinh tế. TD giúp chuyển giao nguồn lực vào các lĩnh vực phát triển và đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và phát triển bền vững của nền kinh tế. Thứ hai, tín dụng kích thích sự chuyển động của hàng hóa và tiền tệ.
Hoạt động TD góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế và làm choán đƣờng cho sự lƣu 17 thông của hàng hóa và tiền tệ. Nó hỗ trợ những ngành kinh tế quan trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trƣởng kinh tế. Chính sách phát triển kinh tế của chính phủ định hƣớng hoạt động tín dụng, giúp gia tăng tốc độ lƣu thông tiền tệ và tăng cƣờng vòng quay vốn. Thứ ba, tín dụng NHTM là lƣỡi dao kéo của chính sách kinh tế.
Nó đƣợc sử dụng nhƣ công cụ để thực thi các quy định vĩ mô kinh tế của chính quyền và định hƣớng hoạt động kinh tế của quốc gia. Tín dụng NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động kinh tế và đáp ứng các mục tiêu chính sách kinh tế của quốc gia. Thứ tƣ, tín dụng tạo ra cầu nối tới hội nhập kinh tế quốc tế. Trong thời đại toàn cầu hóa, DN không chỉ hoạt động trong phạm vi một quốc gia mà còn mở rộng ra thị trƣờng quốc tế.
Tín dụng NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho các doanh nghiệp trong nƣớc để cạnh tranh trên thị trƣờng toàn cầu. Nó hỗ trợ việc mua bán hàng hóa, mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao chất lƣợng sản phẩm để đáp ứng yêu cầu về quy mô và chất lƣợng trên thị trƣờng quốc tế. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thuơng mại 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Joel Bessis đƣa ra khái niệm về rủi ro tín dụng trong cuốn Quản trị rủi ro trong ngân hàng: “Rủi ro tín dụng là rủi ro quan trọng nhất trong ngân hàng.
Đó là rủi ro đối tác sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Theo các quy định, rủi ro tín dụng chia thành một vài thành phần rủi ro tín dụng: rủi ro vỡ nợ, rủi ro giảm uy tín, rủi ro nguy cơ nguy cơ, tức là sự bất trắc về giá trị tƣơng lai của khoản tiền có thể thua lỗ vào thời điểm vỡ nợ chƣa biết, thua lỗ do vỡ nợ thƣờng ít hơn lƣợng tiền phải trả bởi vì sựhồi phục nhờđảm bảo hay thếchấp của bên thứba; rủi ro đối tác là hình thức rủi ro tín dụng cụ thể xuất phát từ phái sinh, có thể chuyển đổi từ đối tác này sang đối tác khác”. Theo 2 nhà kinh tế học A.Lange (năm 1999)(Financial Institutions Management –A Modern Perpective) thì RRTD đƣợc định nghĩa là “Khoản lỗ tiềm tàng khi Ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng nghĩa, là khả năng các luồng 18 thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể đƣợc thực hiện đầy đủ về cả số lƣợng và thời gian”. Đặc điểm của rủi to tín dụng “Rủi to tín dụng mang tính tất yếu và không thể tách rời khỏi hoạt động tín dụng”.
Đây là một phần không thể thiếu và tất yếu của hoạt động NH. Ngân hàng cần có sự nhìn nhận tổng thể về mối quan hệ giữa rủi ro và lợi ích, nhằm tìm kiếm những cơ hội kinh doanh mang lại lợi ích đáng kể với mức độ rủi ro có thể chấp nhận đƣợc. Sự thành công của NH phụ thuộc vào khả năng đánh giá và kiểm soát RRTD, đồng thời phù hợp với nguồn lực tài chính và khả năng tín dụng của mình. Rủi to TD có tính chất không trực tiếp.
Nó xảy ra khi NH cung cấp tín dụng và trong quá trình KH sử dụng vốn vay.