phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung của luận văn đƣợc kết cấu gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về quản trị rủi ro tác nghiệp trong hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tác nghiệp trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm tăng cƣờng quản trị rủi ro tác nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam giai đoạn 2017 - 2019 4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro tác nghiệp Rủi ro tác nghiệp đƣợc dịch ra từ tiếng Anh “Operation risk”, tuy nhiên do cách dịch khác nhau nên trong một số tài liệu tham khảo, có tác giả lại dịch là rủi ro hoạt động. Do vậy, ta có thể hiểu RRTN và rủi ro hoạt động cùng là một loại rủi ro.
Theo Hiệp ƣớc mới nhất về vốn của Basel II: “RRTN là nguy cơ tổn thất do các quy trình nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động, do con người và hệ thống hoặc do các sự kiện bên ngoài gây ra. Định nghĩa này bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ rủi ro chiến lược và uy tín. Phân loại sự kiện rủi ro tác nghiệp Sự kiện rủi ro tác nghiệp là rủi ro tác nghiệp đã xảy ra, đã gây ra tổn thất cho ngân hàng (sự kiện tổn thất rủi ro tác nghiệp) hoặc chƣa gây ra tổn thất nhƣng tiềm ẩn nguy cơ tổn thất nếu không có biện pháp kiểm soát hoặc biện pháp khắc phục, giảm thiểu nguy cơ rủi ro kịp thời (sự kiện gần mất). Khi SKRRTN xảy ra, để phục vụ cho mục đích tuân thủ và tính vốn dự phòng RRTN các NHTM phân loại SKRRTN phù hợp với thông lệ quốc tế Basel II nhƣ sau: Phân loại SKRRTN theo TT Định nghĩa thông lệ quốc tế (Basel II) là nguy cơ cá nhân thuộc hệ thống NHCT thực hiện 1 Gian lận nội bộ hành vi lừa đảo, gian lận, vi phạm chính sách/quy định nhằm mục đích trục lợi cho cá nhân 5 là nguy cơ đối tƣợng bên ngoài thực hiện các hành vi lừa đảo, gian lận, vi phạm các chính sách, quy 2 Gian lận bên ngoài định của ngân hàng nhằm mục đích phá hoại hoặc trục lợi cá nhân, mà không có sự hỗ trợ/giúp đỡ hay cấu kết của cá nhân thuộc hệ thống NHCT là nguy cơ ngân hàng vi phạm Luật, quy định, các cam kết, thoả thuận về hợp đồng lao động, vấn đề sức Thực hành quan hệ lao động 3 khoẻ và an toàn lao động, vấn đề quấy rối, phân biệt và an toàn nơi làm việc đối xử theo quy định của Pháp luật hoặc quy định nội bộ của ngân hàng là nguy cơ ngân hàng vi phạm Luật, cam kết về Khách hàng, Sản phẩm và thực hiện hoạt động kinh doanh của ngành, thị 4 Triển khai Kinh doanh trƣờng, thực hiện trách nhiệm đối với khách hàng hoặc lỗi thiết kế của sản phẩm là nguy cơ tài sản của ngân hàng bị mất mát hoặc bị 5 Phá hoại Tài sản hữu hình phá hoại do thiên tai hoặc các sự kiện khác nhƣ khủng bố, chiến tranh là nguy cơ ngân hàng không thực hiện đƣợc một phần hoặc toàn bộ các dịch vụ của mình trong một Lỗi hệ thống CNTT và Gián khoảng thời gian nhất định hoặc hệ thống CNTT 6 đoạn kinh doanh; bao gồm cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, phần mềm của ngân hàng không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả Thực hiện tác nghiệp, Quản lý là nguy cơ xảy ra sai sót, không kịp thời, không đầy 7 quy trình tác nghiệp và cung đủ trong quá trình tác nghiệp, quản lý quá trình tác cấp dịch vụ nghiệp và quan hệ với đối tác, nhà cung cấp dịch vụ 1.
Nguyên nhân của rủi ro tác nghiệp RRTN là rủi ro do bốn nhóm yếu tố gây ra, đó là: Quy trình, Con ngƣời, Hệ thống, Các sự kiện bên ngoài. 6 Quy trình Các sự Con kiện bên RRTN người ngoài Hệ thống Sơ đồ 1. Các yếu tố gây nên RRTN (Nguồn: Basel II) Bốn nhóm yếu tố trên đƣợc hiểu cụ thể nhƣ sau: Rủi ro do cán bộ ngân hàng: - Thực hiện các nghiệp vụ, nhiệm vụ không đƣợc uỷ quyền hoặc phê duyệt vƣợt quá thẩm quyền cho phép. - Không tuân thủ theo quy định/ quy trình nghiệp vụ của ngân hàng và các văn bản pháp luật hiện hành.
- Không tuân thủ các quy định/ quy trình của hệ thống hỗ trợ, hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống an ninh bảo mật, không hỗ trợ kịp thời hoặc phối hợp không hiệu quả, có hành động gây khó khăn cho bộ phận nghiệp vụ khác. - Không chấp hành nội quy cơ quan, Hợp đồng lao động và các văn bản pháp luật đối với ngƣời lao động nơi công sở nhƣ: an toàn lao động, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng. - Vi phạm đạo đức nghề nghiệp, có hành vi lừa đảo và/hoặc hành động phạm tội, câu kết với đối tƣợng bên trong hoặc bên ngoài gây thiệt hại cho ngân hàng. Rủi ro do quy định, quy trình nghiệp vụ 7 - Có nhiều điểm bất cập, chƣa hoàn chỉnh tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng gây thiệt hại cho ngân hàng.
- Chƣa phù hợp với thực tế, với hệ thống công nghệ thông tin và cơ cấu tổ chức hoạt động, gây khó khăn cho cán bộ trong quá trình tác nghiệp - Không thống nhất, không đồng bộ, nội dung chồng chéo gây ảnh hƣởng tới năng suất và hiệu quả làm việc, đôi khi tạo nên sự thiếu nhất quán trong hành động của cán bộ trong hệ thống ngân hàng, tạo nên hậu quả đáng tiếc. - Không cập nhật kịp thời những thay đổi cho phù hợp với các văn bản pháp luật, văn bản của Nhà nƣớc, Chính phủ hiện hành. Rủi ro từ hệ thống hỗ trợ - Do dữ liệu không đầy đủ, chƣa đƣợc cập nhật kịp thời, thiếu tính đồng bộ hoặc hệ thống bảo mật thông tin không an toàn. - Do thiết kế hệ thống không phù hợp, gián đoạn của hệ thống (xử lý, truyền thông, thông tin) và/hoặc do các phần mềm/ các chƣơng trình hỗ trợ cài đặt trong hệ thống lỗi thời, hỏng hóc hoặc không hoạt động.
- Do việc chỉ đạo, hƣớng dẫn và phối hợp hỗ trợ chƣa kịp thời, chƣa hiệu quả hoặc chồng chéo gây khó khăn, ách tắc cho bộ phận nghiệp vụ. - Do cơ chế, quy chế về công tác hỗ trợ chƣa phù hợp, chƣa đáp ứng các yêu cầu hỗ trợ cho bộ phận nghiệp vụ. - Do không đảm bảo tính bảo mật, an toàn thông tin, tạo kẽ hở cho đối tƣợng xấu lợi dụng để trục lợi cá nhân. Rủi ro do các tác động bên ngoài ngân hàng - Rủi ro do hành vi lừa đảo, trộm cắp và/hoặc phạm tội của các đối tƣợng bên ngoài ngân hàng (VD: hành động rửa tiền, khủng bố, …).
- Rủi ro do các sự kiện bên ngoài và/hoặc do tự nhiên (động đất, bão.) gây gián đoạn /thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. - Rủi ro do các văn bản, quy định của chính phủ, các ban ngành liên quan có sự thay đổi hoặc có những quy định mới làm ảnh hƣởng đến hoạt động của ngân hàng. Rủi ro tác nghiệp là sự kết hợp của sai sót do con ngƣời, sự thiếu khả năng của 8 hệ thống, các thủ tục và quyền kiểm soát không đầy đủ. Đó là rủi ro đƣợc gây ra bởi hệ thống thông tin không đầy đủ, kỹ thuật yếu kém, sự vi phạm nội quy, sự lừa lọc, thảm hoạ bất ngờ, hoặc những vấn đề hoạt động khác có thể đem lại sự thua lỗ không mong đợi hoặc những vấn đề về danh tiếng.
Rủi ro tác nghiệp liên quan đến mọi hoạt động của ngân hàng, từ những hoạt động đơn giản đến những hoạt động phức tạp. Hậu quả của rủi ro tác nghiệp Rủi ro tác nghiệp là một loại hình rủi ro đa dạng và phức tạp, nó có thể gây nên những hậu quả không nhỏ cho các ngân hàng nếu không có những phƣơng thức quản trị rủi ro hợp lý. - Giảm vốn kinh doanh: là giảm trực tiếp giá trị tài sản do trộm cắp, lừa đảo, các hành vi không đƣợc phép hoặc thua lỗ mất mát do hoạt động tác nghiệp. - Mất quyền thu hồi: là khoản tiền phải trả hoặc giải ngân cho các bên không liên quan và không thể thu hồi đƣợc.
- Bồi thường: là khoản tiền phải trả cho khách hàng gốc và/hoặc lãi bằng cách bồi thƣờng, hoặc chi phí của bất kỳ hình thức phạt nào phải trả cho khách hàng. - Nghĩa vụ pháp lý: là các chi phí xét xử, giải quyết và các chi phí pháp lý khác. - Các quy định và việc tuân thủ thuế, các khoản phạt hoặc chi phí trực tiếp của bất kỳ khoản phạt nào như việc thu hồi giấy phép… - Mất tài sản hoặc tổn thất tới tài sản: giảm trực tiếp giá trị của tài sản vật chất, bao gồm cả giấy chứng nhận tiền gửi, do tai nạn, do thiên tai, hoả hoạn, … - Giảm uy tín: đối xử với khách hàng không tốt dẫn tới mất uy tín, ảnh hƣởng đến thƣơng hiệu, hình ảnh của ngân hàng, từ đó làm giảm độ tín nhiệm, giảm lƣợng khách hàng, giảm lợi nhuận. Nhƣ vậy, tựu chung lại, RRTN sẽ dẫn đến hậu quả là làm mất vốn hoặc giảm lợi nhuận của ngân hàng.
QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TẠI CÁCNGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm quản trị rủi ro tác nghiệp Quản trị RRTN là quá trình tiến hành các biện pháp xác định, đo lƣờng, đánh giá RRTN để đƣa ra các giải pháp cảnh báo giảm thiểu rủi ro và kiểm tra, giám sát 9 quá trình thực hiện các giải pháp này. (Trích Toàn tập quản trị ngân hàng thương mại, Nguyễn Văn Tiến (2015), NXB Lao động, Hà Nội) Quản trị RRTN hiệu quả không có nghĩa là rủi ro không xảy ra mà là rủi ro có thể xảy ra nhƣng xảy ra trong mức độ dự đoán trƣớc và ngân hàng đã chuẩn bị đủ nguồn lực để bù đắp các rủi ro có thể xảy ra đó. Việc quản lý RRTN giúp cho ngân hàng ngăn ngừa sự gian lận, giảm thiểu sai sót trong quá trình giao dịch, duy trì tính chính trực của quyền kiểm soát nội bộ, hạn chế tổn thất khi rủi ro xảy ra… 1.