Lời mở đầu - Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản trị rủi ro gian lận thẻ tại Ngân hàng thƣơng mại. - Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. 3 z - Chƣơng 3: Thực trạng quản trị rủi ro gian lận thẻ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà nội. - Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro gian lận thẻ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà nội.
- Kết luận 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO GIAN LẬN THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Gần đây hoạt động quản trị rủi ro đã đƣợc các NHTM trên thế giới quan tâm đầu tƣ và đã xây dựng chiến lƣợc quản trị rủi ro trong chiến lƣợc phát triển chung của mình. Đặc biệt hoạt động quản trị rủi ro gian lận thẻ cũng đƣợc quan tâm chú trọng do sự gia tăng tội phạm công nghệ cao trên toàn thế giới. Đã có nhiều bài viết, công trình khoa học có giá trị đƣợc công bố trên các tạp chí khoa học, các hội thảo, cũng nhƣ trong các sách chuyên đề tham khảo có liên quan.
Trong phạm vi đề tài luận văn, tác giả thấy có các vấn đề đã đƣợc nhiều cá nhân và tổ chức tập trung nghiên cứu. Đó là: Đối với các công trình nghiên cứu trong nước: Đề tài “ Những giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tại các Ngân hàng thƣơng mại Việt nam” của Tác giả Lê Hữu Nghị (2007) , Trƣờng Đại học Kinh tế TP.HCM đã chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến rủi ro và các giải pháp để hạn chế rủi ro trong dịch vụ thẻ, tuy nhiên các tác giả chƣa chỉ ra đƣợc nội dung quá trình quản trị rủi ro thẻ gồm những bƣớc nào để từ đó hoàn thiện công tác quản trị rủi ro thẻ một cách toàn diện. Còn theo tác giả Hà Thị Anh Đào trong đề tài luận văn Thạc sỹ « giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng Công Thương Việt Nam » năm 2009 của Trƣờng Đại học Kinh Tế TP HCM đã chỉ ra đƣợc quá trình quản trị rủi ro gồm những bƣớc nào nhƣng đối với giai đoạn nhận diện rủi ro chỉ là thu thập các dấu hiệu rủi ro để đƣa ra cảnh báo mà chƣa đặt nó trong môi trƣờng kinh tế, xã hội cụ thể để từ đó tìm ra nguyên nhân, xu thế vận động, phát triển của nó. Nếu theo ý kiến của tác giả Hà Thị Anh Đào thì công tác phòng ngừa rủi ro sẽ chƣa đƣợc triệt để bởi chúng ta sẽ 5 z không biết đƣợc nguồn gốc, nguyên nhân của những rủi ro đó để đề ra những biện pháp quản trị rủi ro phù hợp, từ đó giảm đƣợc đáng kể mức độ nghiêm trọng và hạn chế tần suất xuất hiện của chúng.
Đối với các công trình nghiên cứu nước ngoài : Tiến sĩ S. Srinivasulu, Chủ tịch tập đoàn KESDEE Inc – nơi cung cấp các giải pháp tài chính trực tuyến có trụ sở tại California, Hoa Kỳ đã từng có bài nghiên cứu và phát biểu đƣợc đăng trên tạp chí thời báo Kinh tế Sài gòn năm 2013 đã chỉ ra tầm quan trọng của quản trị rủi ro trong hoạt động của các NHTM, đặc biệt ông nhấn mạnh tầm quan trọng của giai đoạn kiểm soát và tài trợ rủi ro. Tuy nhiên ông không nói rõ giai đoạn nhận diện rủi ro và đánh giá rủi ro các NHTM cần phải làm những công việc cụ thể nào. Đề tài « Quản trị rủi ro gian lận thẻ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt nam - Chi nhánh Tây hà nội » đƣợc viết dựa trên sự kế thừa những ƣu việt của các công trình nghiên cứu nói trên và dựa trên cơ sở vận dụng kiến thức đã học tại trƣờng Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội và những kinh nghiệm trong những năm công tác tại BIDV Tây Hà Nội.
Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro thẻ tại Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm rủi ro và quản trị rủi ro Rủi ro là một điều không may mắn, không lƣờng trƣớc đƣợc về khả năng xảy ra, về thời gian và không gian xảy ra, cũng nhƣ mức độ nghiêm trọng và hậu quả của nó. Những hậu quả mà rủi ro mang lại có thể là hậu quả vật chất hoặc phi vật chất, đó là những kết quả ngoài mong đợi mà các NHTM không đoán định trƣớc đƣợc về thời gian và không gian có thể xảy đến trong quá trình hoạt động kinh doanh. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro có thể là do khách quan nhƣ rủi ro do môi trƣờng kinh tế, chính trị, xã hội mang lại hoặc có yếu tố chủ quan nhƣ rủi ro đạo đức nghề nghiệp của cán bộ,…và nhiệm vụ của các nhà quản 6 z trị rủi ro là tìm ra nguyên nhân đó để tìm cách khắc phục, giảm nhẹ hậu quả mà những rủi ro mang lại.
Trong bài phát biểu của mình với Thời báo kinh tế Sài gòn năm 2013, tiến sĩ S. Srinivasulu, Chủ tịch tập đoàn KESDEE Inc – nơi cung cấp các giải pháp tài chính trực tuyến có trụ sở tại California, Hoa Kỳ đã từng nói : “ hãy nói cho tôi biết bạn quản lý rủi ro ra sao, tôi sẽ nói cho bạn biết ngân hàng của bạn như thế nào”. Nhƣ vậy những tổn thất mà những rủi ro mang lại có ảnh hƣởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thƣơng mại và chất lƣợng ngân hàng đó thế nào phụ thuộc vào trình độ quản lý rủi ro của chính ngân hàng đó. Một ngân hàng quản lý rủi ro tốt nghĩa là ngân hàng đó ít bị ảnh hƣởng bởi những tác động do rủi ro không lƣờng trƣớc.
Cũng theo Tiến sĩ S. Srinivasulu: “quản trị rủi ro là một hợp đồng bảo hiểm mà chúng ta chưa nhìn thấy ngay lợi ích của nó cho đến khi rủi ro xảy ra” và ông khuyên các Ngân hàng thƣơng mại “hãy nghĩ đến những điều bạn chưa bao giờ nghĩ tới và hãy lên kịch bản chi tiết về mọi thứ”. Nhƣ vậy rủi ro là điều không mong muốn nhƣng phải chấp nhận trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung, của các Ngân hàng thƣơng mại nói riêng. Những điều không mong muốn ấy chính là những điều mà “bạn chƣa bao giờ nghĩ tới” nhƣng có thể dự đoán đƣợc thông qua các dấu hiệu nhận biết riêng, và việc “lên kịch bản” chính là chiến lƣợc quản trị rủi ro hay chính là việc đƣa ra các biện pháp kiểm soát nhằm giảm bớt thiệt hại của mỗi nhóm rủi ro.
Một ngân hàng có chiến lƣợc quản trị rủi ro tốt sẽ ít bị ảnh hƣởng bởi những rủi ro không mong muốn xảy ra. Rủi ro trong hoạt động của các NHTM đƣợc chia thành 4 nhóm là rủi ro tín dụng, rủi ro tác nghiệp, rủi ro thị trƣờng, rủi ro tỷ giá 7 z Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hƣởng bất lợi của rủi ro. Quản trị rủi ro là một môn khoa học phức tạp đòi hỏi các nhà quản trị phải có kinh nghiệm và trình độ mới có thể nhìn thấy trƣớc những bất ổn có thể xảy đến trong tƣơng lai và lên kế hoạch để né tránh, kiểm soát mức độ thiệt hại của chúng. Quá trình quản trị rủi ro bao gồm 4 bƣớc, đó là: nhận diện rủi ro - đánh giá rủi ro - kiểm soát rủi ro - tài trợ rủi ro.
Giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau, kết quả của giai đoạn trƣớc là tiền đề, cơ sở cho giai đoạn sau tiến hành đƣợc chính xác. Khái niệm rủi ro thẻ tại Ngân hàng thương mại Rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ là các tổn hại vật chất hoặc phi vật chất có liên quan tới hoạt động kinh doanh thẻ bao gồm : phát hành thẻ, sử dụng thẻ, thanh toán thẻ. Rủi ro thẻ là một loại rủi ro trong hoạt động tác nghiệp của mỗi NHTM mà đối tƣợng phải chịu rủi ro là Ngân hàng, chủ thẻ và đơn vị chấp nhận thẻ. Các loại rủi ro trong kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại Rủi ro trong kinh doanh thẻ tại NHTM Rủi ro Rủi ro Rủi ro trong phát trong sử trong hành thẻ dụng thẻ thanh toán thẻ -Thẻ bị đánh -Rủi ro của -Giả mạo cắp thông những giao thông tin tin dịch qua phát hành - Thẻ bị thất mạng thẻ lạc internet -Rủi ro về -Không thu -Rủi ro đạo đạo đức hồi đƣợc nợ đức của của nhân đối với thẻ nhân viên viên Ngân tín dụng ĐVCNT hàng Hình 1.1 :Phân loại rủi ro thẻ tại Ngân hàng thƣơng mại (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) 1.
Rủi ro trong phát hành thẻ Giả mạo thông tin phát hành thẻ : Là trƣờng hợp khách hàng cung cấp thông tin giả mạo về bản thân, về thu nhập, về khả năng tài chính cho Ngân hàng để phát hành thẻ, nếu Ngân hàng không thẩm định thông tin đầy đủ chính xác sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng cho Ngân hàng khi chủ thẻ không có khả năng thanh toán hoặc chủ thẻ lợi dụng để lấy tiền của Ngân hàng. 9 z Hoặc trƣờng hợp một ngƣời lấy thông tin cá nhân của ngƣời khác đến Ngân hàng đề nghị phát hành thẻ, sau đó lấy thẻ chi tiêu trên tài khoản của ngƣời khác. Trƣờng hợp này xảy ra khi nhân viên Ngân hàng không kiểm soát chặt chẽ hồ sơ của khách hàng, không đối chiếu thông tin trên hồ sơ với thông tin của ngƣời đề nghị phát hành thẻ. Những trƣờng hợp thƣờng gặp là phát hành thẻ hàng loạt để trả lƣơng cho nhân viên khi một ngƣời đại diện của tổ chức đến ngân hàng đề nghị làm thẻ và họ tự ký sau đó nhận thẻ mà không đƣa cho chủ thẻ thực sự.
Rủi ro về đạo đức của nhân viên ngân hàng : Trƣờng hợp này cũng thƣờng xuyên xảy ra khi nhân viên Ngân hàng đã có thông tin của một số khách hàng và tự ý phát hành thêm thẻ để chi tiêu từ tài khoản của khách hàng mà khách hàng không biết.