CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN TRI RỦI RO 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu QTRR là một trong những van dé phức tạp nhất trong công tác quản trị. Rui ro trong hoạt động quan trị không còn khoanh vùng dưới góc độ tài chính nữa mà da chuyên sang nhiều lĩnh vực khác. Chính vì vậy, đã có rất nhiều nghiên cứu chuyên sâu cả trong và ngoài nước về QTRR đặc biệt trong lĩnh vực quan lý tài chính, ngân hàng, quan trị doanh nghiệp.
Cụ thé: - Về khái niệm rủi ro: Theo một số nhà khoa học, rủi ro là tình trạng xảy ra một số biến cố bất lợi nhưng có thé đo lường được băng xác suất. Cụ thé: Irving Pfeffer (1953)! cho rằng: rủi ro là những sự ngẫu nhiên có thé đo lường được bằng xác suất; Còn theo Marilu Hurt McCarty”: rủi ro là tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thê xác định được. Theo các học giả Trung Quốc: rủi ro là tình hình sự việc phát sinh theo một xác suất nhất định hoặc sự việc lớn thay hay nhỏ được bồ trí theo một xác suất; người đầu tư đối mặt với rủi ro là tính có thể lãi hoặc lỗ; lợi nhuận rủi ro là một loại lợi nhuận được chấp nhận do giảm chỉ phí rủi ro. Với một số nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng rủi ro là hoàn cảnh trong đó một sự kiện xảy ra với một xác suất nhất định hoặc trong trường hợp quy mô của sự kiện đó có một phân phối xác suất.
Bên cạnh những khái niệm kể trên, một số nhà khoa học khác lại định nghĩa rủi ro với sự chú trọng đến kết quả được mà không chú ý đến xác suất xảy ra. Cụ thé: ' Irving Pfeffer, Management in the arts research program. research paper ; no.7, a problem in risk management (1971), University of California, Los Angeles. Graduate School of Management ? Marilu Hurt McCarty - How the World's Greatest Economic Minds Shaped Modern Thought, by McGraw- Hill, 2000 — The Nobel Laureates Theo Allan Willet: rủi ro là sự bat trắc cụ thé liên quan đến việc xuất hiện một biến có không mong đợi.HrThur Williams*: rủi ro là sự biến động tiền ấn ở kết quả.
Theo Georges Hirsch*: khái niệm rủi ro gắn liền với khả năng xảy ra của một số biến có không lường trước hay đúng hơn là một biến cố mà ta hoàn toàn không chắc chắn (xác suất xảy ra <1) tức là rủi ro ứng với khả năng có sai lệch giữa một bên là những gì xảy ra trong thực tế và một bên là những gì được dự kiến từ trước hoặc được dùng làm hệ quy chiếu, mà sai lệch này lớn đến mức khó chấp nhận được hoặc không chấp nhận được. Tai Việt Nam, một chương trình nghiên cứu và công bồ chính thức về quan tri rủi ro của các doanh nghiệp là đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Bộ Thương Mại tại trường Đại học Ngoại Thương theo đó “Nghiên cứu, phân tích các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” do PGS.TS Nguyễn Thị Quý làm chủ nhiệm đề tài đã đề cập khá nhiều các thông tin mang tính khái niệm về rủi ro và quản trị rủi ro của nhiều tác giả trong và ngoài nước. Cũng trong tài liệu này đã cung cấp khá đầy đủ các phân tích và nhận định khác nhau về khái niệm rủi ro nói chung và chi tiết các khía cạnh khác nhau của rủi ro. Đề hạn chế lặp lại tac giả luận văn xin nêu rõ tên nội dung đề tài và có thé cung cấp tài liệu cụ thé này cho những ai quan tâm.
- Ngoài ra đối với từng chuyên ngành khác nhau đều có một số các công trình nghiên cứu Tiến sĩ thuộc khối trường Tài chính — Ngân hàng nghiên cứu chuyên sâu về QTRR đối với các hoạt động kinh doanh tài chính và hoạt động của các ngân hàng. Ví dụ: Sách “Quan trị rủi ro trong kinh doanh tai chính ngân hàng”. Peter Rose, ban dịch của NXB Học viện Ngân hàng, 2005. Đây là cuốn sách nền tảng cho rất nhiều xuất phát điểm nghiên cứu và giảng dạy về QTRR hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.
Willett, The Economic Theory of Risk and Insurance, New York: Columbia University Press, 1901, reprinted by The University of Pennsylvania Press, 1951. Arthur Williams (1924 — 1976) Risk Management and Insurance by, The Journal of Risk and Insurance, Vol. 148-150, Published by: American Risk and Insurance Association ” Georges Hirsch, The Assessment of the Political Risk in the Investment Decision, The Journal of the Operational Research Society, Vol. 599-610 6 Sách “Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng”, TS.
Nguyễn Văn Tiến (Giảng viên Học viện Ngân hàng) NXB Thống kê, Hà Nội, 2010. Một cuốn sách khá đầy đủ về QTRR mang tính chuyên ngành được nhiều trường đại học áp dụng đào tạo. Luận án Tiến sĩ kinh tế QTRR trong kinh doanh ngoại hối của TS. Bùi Quang Tin, ĐH Ngân hàng HCM, 2013.
Tập trung chuyên sâu vào QTRR trong kinh doanh ngoại hối, có nhiều đề xuất tốt ảnh hưởng tới chính sách ngoại hối của Ngân hàng nhà nước. Luận án Tiến sĩ kinh tế, Quản trị rủi ro tín dụng của Agribank Việt Nam của TS. Nguyễn Tuấn Anh, ĐH Kinh tế quốc dân, 2013. Đây chính là tiền đề để Agribank Việt Nam thành lập phòng QTRR vào cuối năm 2013 với các chính sách kiểm soát QTRR chặt chẽ hon.
Luận án Tiến sĩ kinh tế QTRR thị trường tại Ngân hàng công thương Việt Nam của TS. Hoàng Xuân Phong, HV Ngân hàng, 2014. Luận án rất nổi tiếng này khái quát nhiều kiến thức về QTRR thị trương tài chính, có nhiều đề xuất điều chỉnh chính sách QLRR thị trường tín dụng tại VCB, là nền tảng của nhiều cuốn luận văn nghiên cứu sau này. - Đối với QTRR dự án đầu tư chưa thực sự có nhiều người quan tâm sâu sắc do sử dụng rất nhiều thông tin dữ kiện liên quan đến tô chức và quản lý dự án: Giáo trình QTRR cua TS.
Phạm Công Thắng, ĐH Lạc Hong, 2014. Giáo trình có nội dung sâu sắc về quản trị rủi ro dự án đầu tư chỉ ra các đặc điểm mang tính riêng biệt của dự án đầu tư và cách tính toán rủi ro, các hàm số tính hiệu quả đầu tư. Luận văn thạc sĩ: QTRR dự án đầu tư xây dựng tại công ty CP BĐS điện lực miền trung của Ths. Phạm Thị Hing, DH Da Nẵng, 2012, có một số định hướng tốt làm cơ sở dé khảo sát số liệu và đề xuất giải pháp trong luận văn nghiên cứu nay.
Luận văn thạc sĩ: QTRR trong các dự án BOT tại Việt Nam của Ths. Lộc Diệu Linh, ĐH Ngoại Thương, 2013, nhận thấy qua luận văn này tác giả đã phân tích các số liệu cũ, thậm chí các chính sách nhà nước đã thay đổi nhiều nhưng không cập nhật. Các đề xuất về chính sách chưa cụ thể, mang tính chính sách, chung chung. Ưu điểm các tài liệu tham khảo là đã chỉ ra các biện pháp đo đạc dự phòng rủi ro từ khâu lập kế hoạch dé ước đoán tính khả thi của dự án, lựa chon phương án đầu tư hợp lý dưới góc độ tài chính, dòng tiền.
Thực tế quá trình thực hiện dự án 500kV gặp rất nhiều vướng mắc như: thiếu vốn đầu tư dé công trình dang dở, thiếu nguồn nguyên liệu, thay đổi địa điểm quy hoạch, thủ tục pháp lý, thay đổi điều kiện thi công, mặt bằng thi công, địa hình. do quá trình khảo sát lập dự án đầu tư hoặc giải phóng mặt bằng không được đều có nguy cơ kéo dài thời gian thi công, thậm chí phải hủy bỏ dự án đầu tư. Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro 1. Khái niệm rủi ro Trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động sản xuất kinh doanh có những sự có bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra không thé báo trước được với một cá nhân hoặc tổ chức, những tình huống bất ngờ như vậy gọi là rủi ro.
Khi nói đến rủi ro người ta thường nghĩ đến điều không tốt lành hoặc một thiệt hại, ton that nao đó về vật chất hữu hình hoặc vô hình bất ngờ mang đến do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan. Như vậy: Rui ro là sự việc xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của con người, đem lại những hậu quả mà người ta không thể dự đoán được(Bộ Thương mại, 2008). Mỗi người, mỗi tổ chức, mỗi tình huống rủi ro bất chợt xảy đến khác nhau thì người ta đặt rủi ro trong các sự kiện khác nhau _, chính điều này tạo nên sự đa dạng và cách hiểu rất khác nhau về rủi ro. Cũng chính sự khác nhau từ trong tư duy và quan niệm nên cách dé đề phòng và dự phòng trước rủi ro cũng rất khác nhau.
Tuy khó tìm được một định nghĩa rủi ro hoàn hảo song có thé biết được rang rủi ro thường có hai đặc tính sau: Thứ nhất là biên độ rủi ro, là sự thiệt hại từ rủi ro gây ra ở mức nào. Thứ hai là tần số xuất hiện của rủi ro là nhiều hay ít. Có rất nhiều loại rủi ro khác nhau và do rất nhiều các nguyên nhân khác nhau gây ra. Có những rủi ro do môi trường tự nhiên như rủi ro do lũ lụt, động đât, khô hạn, gây thiệt hại lớn về của cải, vật chất và tính mạng con người; có những rủi ro do môi trường kinh tế — xã hội, chính trị gây ra như lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế, chiến tranh làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động của con người; có những rủi ro do bản thân hoạt động của con người gây ra như rủi ro do tai nạn hoặc rủi ro thua lỗ do trình độ quản lý, trình độ kinh doanh yếu kém; có những kỹ thuật lạc hậu dẫn đến hậu quả là năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao hoặc có những rủi ro do tiến bộ khoa học kỹ thuật như rủi ro hao mòn vô hình quá lớn, không kịp thu hồi vốn đầu tư trong trang thiết bị máy móc thiết bị và tài sản cô định, các rủi ro này thường xuất hiện trong lĩnh vực sản xuất đặc biệt là lĩnh vực sản xuất xây dựng.
Hầu hết các rủi ro xảy ra đều nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người. Rủi ro (Risk) trong kinh tế là những tác hại bất thường xây ra mà các hệ thống không thé dự phòng, dự báo trước nhưng phải chấp nhận dé xử lý.