Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị quan hệ khách hàng Chương 2: Thực trạng quản trị quan hệ khách hàng tại ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng chỉ nhánh Bình Định. Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị quan hệ khách hàng tại ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng chỉ nhánh Bình Định 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Đặc thù của ngành ngân hàng là kinh doanh loại hình dịch vụ, sản phẩm được cung cấp cho khách hàng chỉ có thể cảm nhận giá trị của nó. Do đó, việc ứng dụng quản trị quan hệ khách hàng (CRM) để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh toàn cầu là hết sức cần thiết.
Mặc dù còn mới mẻ nhưng các ngân hàng tại Việt Nam cũng đã bước đầu tiếp cận trên phương diện công nghệ CRM và bước đầu thu được kết quả tốt, tuy nhiên mức độ áp dụng vẫn còn hạn chế, khả năng thành công vẫn còn ở mức thấp. Trong những năm gần đây, quản trị quan hệ khách hàng đã thu hút sự chú ý và quan tâm của cả giới học giả và sinh viên nghiên cứu. Vì vậy trong quá trình tìm hiểu và phát triển đề tài, tác giả đã tham khảo một số giáo trình, một số đề tài nghiên cứu liên quan đến CRM, một số bài báo bài luận về CRM đề làm cơ sở cho đề tài của mình Để có kiến thức nền tảng và có cơ sở hình thành nên phân cơ sở lý luận chung cho đề tài của mình, tác giả đã tham khảo, tông hợp, đúc kết và kế thừa một số tài liệu của các tác giả sau: + Kiến thức chung về marketing: Quản trị marketing cua Phillip Kotler, Quản trị marketing định hướng giá trị của PGS.TS Lê Thế Giới. Qua các tài liệu này chúng ta sẽ có được những kiến thức chung nhất về marketing và những định hướng giá trị hướng đến khách hàng trong Marketing hiện đại.
Quản lý Marketing trong thế kỷ 21 đã mang đến cho người đọc cách thức tiếp cận mới về Marketing hiện đại. Tài liệu đã nhấn mạnh mục tiêu hoạt động chính của các doanh nghiệp là thu hút và giữ được khách hàng, bằng cách đó sẽ tạo ra được lợi nhuận kinh tế, tăng trưởng cho doanh nghiệp, phân loại và tìm hiểu nhu cầu, đặc điểm hành vi của từng nhóm khách hàng để doanh nghiệp có thể đưa ra những chính sách tác động đến từng nhóm khách hàng của mình. Bên cạnh đó tác giả cũng giới thiệu những khái niệm cơ bản về CRM. Tuy nhiên các khái niệm chưa sâu, chưa thấy rõ được tiến trình cần để thực hiện CRM.
Quản trị quan hệ khách hàng ra đời vào giữa thập niên 90, đã cung cấp cho các nhà làm Marketing khả năng thu thập và tích lũy dữ liệu về hành vi mua của khách hàng trên một cơ sở dữ liệu cá nhân. CRM mang đến cho các nhà làm Marketing khả năng phát triển các mối quan hệ với khách hàng mà không cần hình thành bộ phận công nghệ thông tin và những phương tiện để phân biệt giữa nhu cầu của khách hàng và giá trị của tổ chức. CRM cũng cung cấp cho tổ chức một khả năng tương tác trực tiếp và đưa yêu cầu của khách hàng vào sản phẩm và dịch vụ của mình một cách cá nhân hóa. + Lý thuyết về quản trị quan hệ khách hàng: Để hiểu rõ về quản trị quan hệ khách hàng, tác giả đã nghiên cứu và kế thừa một số kiến thức cơ bản từ giáo trình Quản trị quan hệ khách hàng của Giảng viên Trương Thị Lan Anh, quản lý quan hệ khách hàng của Nguyễn Văn Dũng làm nên tảng để xây dung luận văn này.
Thông qua giáo trình, tác giả đã nắm được các khái niệm cốt lõi trong CRM, hiéu được cách áp dụng các thành tố trong mô hình IDIC dé tao ra và quản trị quan hệ khách hàng hiệu quả, sử dụng được cơ sở dữ liệu khách hàng hiệu quả, thực thi được chiến lược CRM. Bên cạnh đó tác giả tham khảo luận văn Quản trị quan hệ khách hàng tại Chỉ nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Kon Tum của tác giả Nguyễn Công Thành Phương; luận văn Quản trị quan hệ khách hàng tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam- Chi nhánh Quảng Nam của tác giả Trịnh Minh Nhật Vũ. + Đề tài của tác giả Nguyễn Công Thành Phương: Đề tài chỉ tập trung hoàn thiện hệ thống quản trị quan hệ khách hàng đối với khách hàng tín dụng. 'Việc lựa chọn khách hàng mục tiêu chủ yếu dựa trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của ngân hàng đối với khách hàng.
Vì vậy giải pháp hoàn thiện hệ thống quản trị quan hệ khách hàng chỉ áp dụng với khách hàng tín dụng, và chưa có các giải pháp riêng biệt cho khách hàng cá nhân hay doanh nghiệp. + Đề tài của tác giả Trịnh Minh Nhật Vũ: tác giả tập trung đánh giá thực trạng quản trị quan hệ khách hàng đối với cả khách hàng doanh nghiệp và cá nhân tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam- Chỉ nhánh Quảng Nam. Các nội dung quản trị quan hệ khách hàng chủ yếu tập trung vào đối tượng khách hàng trong hoạt động tiền gửi. Từ đó tác giả xây dựng các công cụ, chương trình đối với từng đối tượng khách hàng cá nhân, chưa xây dựng đối với đối tượng khách hàng doanh nghiệp.
Trên cơ sở các đề tài tham khảo, nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động. huy động vốn và hoạt động tín dụng trong ngân hàng là như nhau, nên đề tài đi theo hướng làm rõ nội dung quản trị quan hệ khách hàng đối với cả hoạt động huy động vốn và tín dụng, tập trung tăng cường công tác quản trị quan hệ khách hàng đối với từng đối tượng khách hàng. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG 1. KHACH HANG VA QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG 1.
Khái niệm khách hàng Một doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ trước khi hoạt động cũng cẩn phải trả lời được 3 câu hỏi: Doanh nghiệp đó sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Và sản xuất như thế nào? Tất cả câu trả lời đều phải dựa trên một cơ sở quan trọng, nhất đó là khách hàng. “Doanh nghiệp nên bán cho khách hàng cái họ cần chứ không nên bán cho họ những gì mình có.” Theo quan niệm của Marketing hiện đại thì mọi hoạt động của doanh nghiệp đều xuất phát từ phía khách hàng. Do đó, chúng ta cần phải hiểu khái niệm về khách hàng. Thực tế có rất nhiều quan niệm về khách hàng.
Ching han như theo Phillips Kotler thì khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì “khách hàng là người giao dịch mua bán hàng hóa hay dịch vụ với các cơ sở sản xuất, dịch vụ, các cửa hàng thương nghiệp, các công ty, tổng công ty.” Theo quan điểm Marketing thì khách hàng là toàn bộ những người sử dụng sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của họ. Đứng trên mỗi góc độ khác nhau chúng ta có một khái niệm khác nhau về khách hàng Nhưng nhìn chung thì khách hàng là những cá nhân hoặc nhóm người, các tổ chức có nhu cầu và có khả năng thanh toán. Khách hàng của ngân hàng thương mại là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp.
Có nhu cầu sử dụng sản phẩm của ngân hàng và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó của mình. Khách hàng tham gia vào cả quá trình cung cấp đầu vào như gửi tiết kiệm, mua kỳ phiếu. Đồng thời cũng là bên tiêu thụ đầu ra khi vay vốn từ ngân hàng, và sử dụng các dịch vụ do ngân hàng cung ứng. Mối quan hệ của ngân hàng với khách hàng là mối quan hệ hai chiều, tạo điều kiện cho nhau cùng tồn tại và phát triển.
Quản trị quan hệ khách hàng a. Khái niệm quản trị quan hệ khách hàng Khái niệm quản trị quan hệ khách hàng (Customer Relationship Management) đã trở nên phổ biến vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Tuy nhiên đến nay vẫn có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản trị quan hệ khách hàng dựa trên những quan điểm khác nhau. Có quan điểm xem CRM như gói phần mềm, hệ thống hay công nghệ, CRM là việc lưu trữ và phân tích dữ liệu hay xem CRM như sự thay đổi văn hóa trong tô chức.
Có quan điểm lại xem CRM như một hoạt động quản trị tập trung vào các môi quan hệ chứ không phải các giao dịch. Một số khái niệm: - CRM là kỹ thuật sử dụng dé phối hợp giữa các bộ phận bán hàng, marketing và hệ thống thông tin để xây dựng mối quan hệ với khách hàng (Shoemaker.21] - CRM thúc đây các tô chức đầu tư vào khách hàng, đó là những nguồn giá trị tiềm năng của tô chức, nhưng cũng tối thiểu hóa nguồn đầu tư vào. những khách hàng không đem lại giá trị (Verhoef & Donkers, 2001) [7, tr.19] - CRM là một kế hoạch tổng thể phát triển những nguồn lực để thiếp lập vị trí thuận lợi, một lợi thế cạnh tranh triển vọng (Grant, 1998) [7, tr21] - CRM là một quá trình thu thập thông tin đề tăng hiểu biết về việc quản trị quan hệ của tô chức với khách hàng của mình. Đó là một chiến lược kinh doanh mà công nghệ thông tin được sử dụng để cung cấp cho doanh nghiệp quan điểm toàn diện, đáng tin cậy, tích hợp với cơ sở khách hàng, qua đó mọi quá trình và những tương tác với khách hàng giúp duy trì và mở rộng quan hệ có lợi cho cả đôi bên.
CRM do đó là một kỹ thuật hay một tập hợp các quá trình được thiết kế đề thu thập dữ liệu và cung cấp thông tin hỗ trợ tổ chức đánh giá các tùy chọn chiến lược (Zikmund và cộng sự, 2003), ~ CRM là quá trình ra các quyết định quản trị với mục tiêu sau cùng là gia tăng giá trị của cơ sở khách hàng thông qua các môi quan hệ tốt hơn với các khách hàng dựa trên cơ sở cá biệt theo khách hàng (Peppers và Rogers, 2004). ~ CRM là quá trình lựa chọn những khách hàng mà một doanh nghiệp có thể phục vụ một cách sinh lời nhất và thiết lập những tương tác riêng biệt giữ doanh nghiệp với từng khách hàng (V. Reinartz, 2006) Càng ngày quan điểm về quản trị quan hệ khách hàng càng mang ý nghĩa rộng hơn.