Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản trị khoản phải thu Chương 2: Thực trạng công tác quản trị khoản phải thu tại tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam giai đoạn 2019-2021 Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản trị khoản phải thu tại tập đoàn 7, Vị trí thực tập Đơn vị thực tập: Cục tài chính doanh nghiệp, Bộ tài chính. Công việc thực tập: sắp xếp giấy tờ, nhập liệu excel và học tập xử lý hồ sơ. SV: Bùi Thị Hiền Mai 3 K21TCG Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ KHOẢN PHẢI THU TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về khoản phải thu trong doanh nghiệp 1.
Khái niệm Khoản phải thu là một loại tài sản của doanh nghiệp được tính dựa trên tất cả các giao dịch chưa thanh toán, các khoản nợ hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà các cá nhân hay tổ chức chưa trả cho doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp bao gồm các khoản phải thu nội bộ sau: phải thu khách hàng, trả trước cho người bán, phải thu nội bộ và phải thu khác. Bản chất khoản phải thu Thực chất khoản phải thu là khoản tiền mà doanh nghiệp cho khách hàng vay hay một khoản tài trợ cho khách hàng với chi phí rẻ. Trong quá trình SXKD của các doanh nghiệp, việc mua chịu và bán chịu diễn ra thường xuyên, vì vậy khách hàng của các doanh nghiệp có thể dựa vào nguồn tài trợ thông qua hình thức bán hàng trên để có hàng hóa, nguyên vật liệu phục vụ nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của khách hàng.
Nguồn gốc khoản phải thu Các nhà bán hàng muốn tăng doanh thu thường mở rộng chính sách tín dụng bằng cách cho khách hàng trả tiền sau. Khách hàng nhờ vậy có thể mua hàng hóa mà chưa phải thanh toán ngay bằng tiền. Từ đó phát sinh một khoản nợ cần thu hồi hay chính là khoản phải thu trong doanh nghiệp. Vì vậy khoản phải thu được tạo ra bởi chính sách cấp tín dụng cho khách hàng.
Phân loại khoản phải thu Việc phân loại khoản phải thu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong kế toán cũng như quản lý doanh nghiệp. Các nhà quản trị cần nắm rõ được các vấn đề liên quan đến việc cấp tín dụng cho khách hàng như đối tượng nợ, thời điểm phát sinh khoản nợ và thời hạn của khoản nợ … Để từ đó có thể đưa ra quyết định kinh doanh cho doanh nghiệp một cách đúng đắn. SV: Bùi Thị Hiền Mai 4 K21TCG Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính Khoản phải thu có thể được phân loại theo hai cách là phân loại theo đối tượng và phân loại theo thời gian. Phân loại theo đối tƣợng khoản phải thu Theo hình thức phân loại này, khoản phải thu được chia thành ba loại: Phải thu của khách hàng, phải thu nội bộ và phải thu khác.
Phải thu của khách hàng: Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản phẩm, hàng hóa, BĐS đầu tư, TSCĐ, các khoản đầu tư tài chính và cung cấp dịch vụ. Tài khoản này còn dùng để phản ánh các khoản phải thu của người nhận thầu XDCB với người giao thầu về khối lượng công tác XDCB đã hoàn thành. Không phản ánh vào tài khoản này các nghiệp vụ thu tiền ngay. (Theo Điểm a, khoản 1, điều 18 Thông tư 200/2014/BTC) Phải thu nội bộ: Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với đơn vị cấp dưới hoặc giữa các đơn vị cấp dưới trực thuộc doanh nghiệp độc lập.
Các đơn vị cấp dưới trực thuộc trong trường hợp này là các đơn vị không có tư cách pháp nhân, hạch toán phụ thuộc nhưng có tổ chức công tác kế toán, như các chi nhánh, xí nghiệp, ban quản lý dự án… hạch toán phụ thuộc doanh nghiệp. (Theo điểm a, khoản 1, điều 20 Thông tư 200/2014/BTC) Phải thu khác: Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu ngoài phạm vi đã phản ánh ở các tài khoản phải thu (TK 131, 136) và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu này, gồm những nội dung chủ yếu sau: - Giá trị tài sản thiếu đã được phát hiện nhưng chưa xác định được nguyên nhân, phải chờ xử lý; - Các khoản phải thu về bồi thường vật chất do cá nhân, tập thể (trong và ngoài doanh nghiệp) gây ra như mất mát, hư hỏng vật tư, hàng hóa, tiền vốn,. đã được xử lý bắt bồi thường; - Các khoản cho bên khác mượn bằng tài sản phi tiền tệ (nếu cho mượn bằng tiền thì phải kế toán là cho vay trên TK 1283); SV: Bùi Thị Hiền Mai 5 K21TCG Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính - Các khoản đã chi cho hoạt động sự nghiệp, chi dự án, chi đầu tư XDCB, chi phí sản xuất, kinh doanh nhưng không được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải thu hồi; - Các khoản chi hộ phải thu hồi, như các khoản bên nhận uỷ thác xuất nhập khẩu chi hộ, cho bên giao uỷ thác xuất khẩu về phí ngân hàng, phí giám định hải quan, phí vận chuyển, bốc vác, các khoản thuế,. - Các khoản phải thu phát sinh khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, như: Chi phí cổ phần hoá, trợ cấp cho lao động thôi việc, mất việc, hỗ trợ đào tạo lại lao động trong doanh nghiệp cổ phần hoá,.
- Tiền lãi cho vay, cổ tức, lợi nhuận phải thu từ các hoạt động đầu tư tài chính; - Các khoản phải thu khác ngoài các khoản trên. Phân loại theo thời gian Các khoản phải thu ngắn hạn: Là các khoản phải thu ngắn hạn từ khách hàng, khoản trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng và các khoản phải thu khác tại thời điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm hoặc trong một chu kì kinh doanh (sau khi trừ đi dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi). Các khoản phải thu dài hạn: Là các khoản phải thu dài hạn từ khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn, các khoản phải thu dài hạn khác và số vốn kinh doanh đã giao cho các đơn vị trực thuộc, tại thời điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên một năm hoặc trên một chu kỳ kinh doanh (sau khi trừ đi dự phòng phải thu dài hạn khó đòi). Vai trò khoản phải thu trong doanh nghiệp a.
Vai trò đối với nhà cung cấp tín dụng Để có thể tồn tại và phát triển được trên thị trường thì hầu hết các doanh nghiệp đều phải cố gắng tận dụng triệt để mọi nguồn lực, khả năng cũng như các công cụ mà doanh nghiệp hiện có. Trong đó, chính sách tín dụng là một thứ vũ khí sắc bén nhằm giúp cho doanh nghiệp gia tăng lượng hàng hóa bán ra và đạt được mục tiêu về doanh số. Khi các doanh nghiệp nới lỏng chính sách tín dụng thì ngoài việc số lượng hàng bán ra tăng lên thì còn tiết kiệm được chi phí cố định do phần SV: Bùi Thị Hiền Mai 6 K21TCG Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính sản lượng tăng thêm. Tín dụng thương mại có thể làm cho doanh nghiệp nâng cao uy tín, tạo ra danh tiếng trên thị trường và làm cho khách hàng mua sản phẩm của mình thường xuyên hơn.
Mặt khác, khi nới lỏng chính sách tín dụng sẽ giúp cho doanh nghiệp giải tỏa được lượng hàng tồn kho, đồng thời giảm các chi phí liên quan đến tồn kho. Ngoài ra, việc nới lỏng chính sách tín dụng còn giúp cho khách hàng gắn bó với công ty hơn, duy trì được mối quan hệ thường xuyên với khách hàng truyền thống và tìm kiếm thêm khách hàng mới. Ngược lại, bán hàng tín dụng cũng có những bất lợi như: khoản phải thu của công ty tăng lên do bán hàng tín dụng phức tạp hơn nhiều và không thu được tiền ngay như bán hàng giao ngay, từ đó làm tăng vốn đầu tư nên dễ mất đi cơ hội tìm kiếm lợi nhuận từ các hoạt động khác; khi mở rộng các điều kiện tín dụng sẽ làm tăng rủi ro, mất mát đối với doanh nghiệp do không đòi được nợ; phải tốn thêm chi phí quản lý nợ của khách hàng cũng như các chi phí giao dịch khác… b. Đối với khách hàng đƣợc nhận tín dụng Về cơ bản thì tín dụng thương mại là sự tin tưởng của người cấp tín dụng với người được hưởng tín dụng, vì thế người được hưởng tín dụng hay người mua hàng sẽ được hưởng một khoản tín dụng với các thủ tục tương đối đơn giản.
Nghĩa là khách hàng được hưởng một phần lợi ích trích từ nhà cung cấp là các khoản chiết khấu hoặc thời hạn trả nợ được kéo dài. Tuy nhiên, khi khách hàng nhận chính sách tín dụng từ nhà cung cấp thì có thể sẽ phải trả thêm một phần chi phí cho hàng mua, hay nói cách khác là phải mua với giá cao hơn so với giá trả tiền ngay. Quản trị các khoản phải thu Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, việc mua chịu và bán chịu là công việc diễn ra thường xuyên, hàng ngày. Chính vì vậy các khoản nợ phải thu phát sinh là điều tất yếu đối với mỗi doanh nghiệp.
Các khoản phải thu trong doanh nghiệp gồm có: phải thu từ khách hàng, trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, phải thu khác. Sự cần thiết phải quản trị khoản phải thu Việc quản trị các khoản phải thu trong doanh nghiệp là vấn đề rất cần thiết bởi vì các khoản phải thu trong doanh nghiệp là bộ phận chiếm tỷ trọng tương đối SV: Bùi Thị Hiền Mai 7 K21TCG Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp (thường từ 15-20% trên tổng tài sản của doanh nghiệp), do vậy nếu quản lý không tốt, doanh nghiệp sẽ không thu hồi đủ vốn để bắt đầu chu kỳ sản xuất kinh doanh mới đồng thời vốn bị ứ đọng, giảm hiệu quả sinh lời. Trong các khoản nợ phải thu, nợ phải thu từ khách hàng là bộ phận quan trọng nhất, có quan hệ chặt chẽ với doanh thu bán hàng và ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Khi tăng lượng hàng hóa bán chịu sẽ làm tăng khoản nợ phải thu, nhưng doanh nghiệp lại có thể tăng lượng hàng hóa bán ra, từ đó tăng doanh thu và tăng lợi nhuận.