Chương 1 này, có thể rút ra được 2 nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tín dụng của NHTM như sau: - Thứ nhất, việc cấp tín dụng dựa trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật và phục vụ đúng mục đích cấp tín dụng. 12 c - Thứ hai, số tiền cấp tín dụng phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi theo thỏa thuận giữa bên cấp tín dụng và bên được cấp tín dụng.3 Các hình thức cấp tín dụng Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế - xã hội, nhu cầu về vốn của các chủ thể trong nền kinh tế là vô cùng đa dạng. Để đáp ứng những nhu cầu đó, các NHTM luôn phải nghiên cứu các hình thức cấp tín dụng đa dạng, chuyên biệt để thu hút khách hàng, phân tán rủi ro và duy trì vị thế trong môi trường cạnh tranh. Hiện tại, các NHTM phân loại tín dụng theo 4 hình thức chính như sau: a.
Căn cứ vào thời hạn cấp tín dụng - Tín dụng ngắn hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn đến 12 tháng kể từ ngày cấp tín dụng. - Tín dụng trung hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn từ hơn 12 tháng đến 60 tháng kể từ ngày cấp tín dụng (tương ứng từ 1 – 5 năm). - Tín dụng dài hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn trên 60 tháng kể từ ngày cấp tín dụng (tương ứng trên 5 năm). Căn cứ vào phương án bảo đảm cho khoản cấp tín dụng - Tín dụng có tài sản bảo đảm: là hình thức cấp tín dụng trên cơ sở cầm cố/thế chấp tài sản của bên được cấp tín dụng và/hoặc tài sản hay bảo lãnh của bên thứ ba liên quan đến bên được cấp tín dụng.
- Tín dụng không có tài sản bảo đảm (thường được gọi là tín chấp): là hình thức cấp tín dụng trên cơ sở không áp dụng bất kỳ tài sản bảo đảm hay bảo lãnh của bên thứ ba nào. Hình thức cấp tín dụng này thường được áp dụng cho các khách hàng lớn, có thương hiệu trên thị trường; hay các khách hàng có quan hệ lâu dài, sử dụng nhiều dịch vụ và có uy tín thanh toán với ngân hàng. Căn cứ vào mục đích cấp tín dụng 13 c - Tín dụng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh: là hình thức cấp tín dụng cho bên được cấp tín dụng có nguồn vốn bổ sung cho hoạt động kinh doanh thường nhật (sản xuất, thương mại, xây lắp, v.v), thường dành cho các doanh nghiệp với kỳ hạn ngắn, trả lãi hàng tháng và trả gốc cuối kỳ, hoặc trả cả gốc và lãi một lần duy nhất vào cuối kỳ. - Tín dụng phục vụ hoạt động đầu tư: là hình thức cấp tín dụng để phục vụ hoạt động đầu tư mua sắm tài sản cố định, các dự án có thời gian thực hiện dài, có kỳ hạn trung hạn hoặc dài hạn.
Hình thức này có thể cho gia hạn/ân hạn (chưa cần hoàn trả) tiền gốc, lãi trong một thời hạn nhất định, lãi suất cao hơn so với cấp tín dụng ngắn hạn. - Tín dụng phục vụ hoạt động tiêu dùng: là hình thức cấp tín dụng cho các cá nhân, hộ gia đình mua sắm tài sản, xây sửa nhà và các chi tiêu cá nhân khác. Cách thức thu hồi vốn linh hoạt theo thỏa thuận giữa NHTM và khách hàng, thông thường sẽ trả tiền gốc và lãi hàng tháng. Căn cứ vào đối tượng được cấp tín dụng - Tín dụng doanh nghiệp (bán buôn): các khoản cấp tín dụng với giá trị lớn, cấp cho các doanh nghiệp phục vụ kinh doanh và đầu tư.
- Tín dụng cá nhân (bán lẻ): các khoản cấp tín dụng với giá trị nhỏ, cấp cho các cá nhân, hộ gia đình phục vụ nhu cầu tiêu dùng. - Tín dụng cho các tổ chức tài chính: các khoản tín dụng được cấp cho các công ty chứng khoán, các định chế tài chính công ty bảo hiểm, và các tổ chức tài chính khác. Những khoản cấp tín dụng này trở thành nguồn vốn của bên vay, có thể dùng để thanh toán các khoản nợ đến hạn hoặc tiếp tục cho vay ra ngoài thị trường. Vai trò của tín dụng ngân hàng thương mại trong nền kinh tế a.
Đối với nền kinh tế 14 c - Thứ nhất, luân chuyển vốn trong nền kinh tế, từ những đối tượng có nguồn vốn nhàn rỗi sang các đối tượng cần vốn. NHTM giúp tạo cơ hội sinh lời ổn định và an toàn cho những người chưa có nhiều thông tin về các kênh đầu tư khác trên thị trường, đồng thời là nơi có quy trình, chính sách cho vay rõ ràng, lãi suất hợp lý cho các bên có nhu cầu vốn. Như vậy, kênh luân chuyển vốn qua hệ thống ngân hàng giúp thúc đẩy hiệu quả của nền kinh tế. - Thứ hai, hoạt động tín dụng giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế.
Thông qua tín dụng ngân hàng, nguồn tiền những đối tượng thiếu các phương án đầu tư hiệu quả được chuyển đến các đối tượng có phương án đầu tư hiệu quả nhưng thiếu vốn. Kết quả giúp nền kinh tế tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và tăng năng suất lao động, giảm nguy cơ thất nghiệp, ổn định chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội. - Thứ ba, việc các ngân hàng cung ứng nguồn vốn cho các ngành kinh tế trọng điểm sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề đó, hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại, hợp lý và hiệu quả. - Thứ tư, hoạt động tín dụng ngân hàng giúp kiểm soát giá trị đồng tiền và thúc đẩy giao thương giữa các quốc gia.
- Thứ năm, hoạt động tín dụng ngân hàng mang lại nguồn thu rất lớn cho ngân sách nhà nước thông qua nguồn thuế thu nhập và lãi từ hoạt động ủy thác đầu tư vốn của chính phủ. Đối với khách hàng - Thứ nhất, tín dụng ngân hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu cả về khối lượng và chất lượng nguồn vốn cho thị trường. Với các ưu điểm như thuận tiện, an toàn, thủ tục đơn giản, được giám sát qua nhiều lớp và khả năng đáp ứng khối lượng lớn, tín dụng ngân hàng thỏa mãn được nhu cầu ngày càng đa dạng của các thành phần trong nền kinh tế. 15 c - Thứ hai, tín dụng ngân hàng giúp các nhà đầu tư nắm bắt kịp thời những cơ hội, các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn để hoạt động và mở rộng, các cá nhân có nguồn tài chính để phục vụ nhu cầu tiêu dùng và mua sắm tài sản, v.v - Thứ ba, tín dụng ngân hàng ràng buộc trách nhiệm sử dụng vốn với khách hàng, là động lực thúc đẩy khách hàng phát huy khả năng để sử dụng vốn vay hiệu quả, đem lại lợi nhuận và bảo đảm nghĩa vụ trả nợ.
Đối với ngân hàng - Thứ nhất, hoạt động tín dụng là kênh dễ triển khai và mang lại nguồn thu nhập chính cho ngân hàng. Mặc dù hiện tại các kênh dịch vụ khác của ngân hàng đem lại nguồn thu khá tốt nhưng vẫn chưa vượt được nguồn thu từ hoạt động tín dụng. - Thứ hai, hoạt động tín dụng giúp đa dạng hóa danh mục cấp vốn và đầu tư, từ đó giúp phân tán và giảm thiểu rủi ro. - Thứ ba, từ hoạt động tín dụng, ngân hàng có cơ hội giới thiệu và thu hút được khách hàng sử dụng thêm các dịch vụ khác của ngân hàng như trung gian thanh toán, tư vấn tài chính, kinh doanh ngoại tệ, các dịch vụ liên kết khác, v.3 Quản trị tín dụng của Ngân hàng thương mại Commented [p1]: Cần trích nguồn đầy đủ, đặc biệt các chỗ về khái niệm 1.1 Khái niệm, mục tiêu của Quản trị ngân hàng thương mại - Khái niệm về quản trị: Commented [TH2]: Em đã bổ sung thêm khái niệm về quản trị từ giáo trình của đại học NEU ạ Quản trị là một khái niệm rộng lớn và là hoạt động cần có trong tất cả các lĩnh vực của đời sống: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, v.
Đã có nhiều định nghĩa về quản trị của các học giả, nhà kinh tế học xuyên suốt dòng chảy lịch sử: 16 c Stonner và Rabbins: “Quản trị là một tiến trình bao gồm các việc hoạch định, tổ chức quản trị con người và kiểm tra các hoạt động trong một đơn vị một cách có hệ thống nhằm hoàn thành mục tiêu của đơn vị đó.” Harold Kootz và Cyril O’Donnell: “Quản trị là thiết lập và duy trì một môi trường mà các cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả.” Robert Albanese: “Quản trị là một quá trình kĩ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức.” Có thể thấy có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm quản trị, nhưng để nắm được một cách khái quát, trong phạm vi luận văn này tác giả xin được trích dẫn khái niệm được nêu trong Giáo trình Quản trị học của hai tác giả Đoàn Thị Thu Hà và Nguyễn Thị Ngọc Huyền như sau: “Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường”. Hoạt động quản trị một quá trình bao gồm bốn bước: Lập kế hoạch: là quá trình thiết lập các mục tiêu và những phương thức hành động thích hợp để đạt mục tiêu; Tổ chức: là quá trình xây dựng những hình thái cơ cấu nhất định để đạt mục tiêu và đảm bảo nguồn nhân lực theo cơ cấu; Lãnh đạo: là quá trình chỉ đạo và thúc đẩy nhân viên làm việc một cách tốt nhất vì lợi ích của tổ chức. Kiểm tra: là quá trình giám sát và chấn chỉnh các hoạt động đẻ đảm bảo việc thực hiện theo các kế hoạch. - Khái niệm về quản trị ngân hàng thương mại: 17 c NHTM cũng như bất kỳ doanh nghiệp nào khác trên thị trường, để đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình hoạt động cần phải có một chính sách quản trị phù hợp.
Đó là những hoạt động được xuất phát từ nhu cầu, mục tiêu chung và hướng vào việc điều hòa các nguồn lực về vật chất và con người sao cho đạt được mục đích, mục tiêu nhất định với chi phí tối ưu nhất. Mục tiêu cơ bản của nhà quản trị ngân hàng hướng tới bao gồm: - Tối đa hóa lợi nhuận cho ngân hàng; - Giảm thiểu và kiểm soát các rủi ro trong hoạt động kinh doanh; - Đảm bảo khả năng thanh toán trong ngắn hạn và dài hạn.