Chương 1. Cơ sở lý luận về quản trị danh mục tín dụng tại Ngân hàng thương mại. Thực trạng quản trị danh mục tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Tuyên Quang Chương 3. Giải pháp quản trị danh mục tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Tuyên Quang.
10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ DANH MỤC TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về danh mục tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm về danh mục tín dụng tại ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (Commercial bank) là một doanh nghiệp chuyên về kinh doanh đồng vốn và các dịch vụ tiền tệ liên quan và được coi là một loại hình kinh doanh đặc thù. Sản phẩm kinh doanh chủ yếu là việc sử dụng những khoản tiền tệ nên có thể hiểu ngân hàng thương mại chính là nơi vừa cung cấp tiền vốn và cũng là nơi giúp khách hàng tiêu thụ những đồng vốn. Luật Các Tổ chức tín dụng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), quy định: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Với tư cách là tổ chức kinh doanh, hoạt động của ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở chế độ hạch toán kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận. Ngân hàng thương mại được pháp luật cho phép thực hiện rộng rãi các loại nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, như: nhận tiền gửi có kì hạn, không kì hạn; thực hiện nghiệp vụ chiết khấu; dịch vụ thanh toán; huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ nhận nợ. Trong đó hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu và quan trọng của ngân hàng thương mại.
Theo khoản 14 Điều 4 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 thì hoạt động cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ , chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. 11 “Danh mục - portfolio là tập hợp các loại chứng khoán, tài sản do một cá nhân hoặc một tổ chức tài chính sở hữu bao gồm các loại cổ phiếu, chứng khoán, chứng chỉ ký thác, hàng hóa, tiền mặt và bất động sản để hạn chế rủi ro trong đầu tư”.(Dickerson Knight Group, Inc. Theo OCC (1998): “Danh mục tín dụng của NHTM là sự kết hợp nắm giữ các khoản tín dụng đối với các đối tượng khách hàng khác nhau thuộc các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, thuộc khu vực địa lý khác nhau. Mục đích của sự kết hợp trong danh mục tín dụng là làm giảm rủi ro bằng cách đa dạng hoá danh mục tín dụng của NHTM” Qua sự phân tích ở trên, có thể cho rằng: “Danh mục tín dụng của ngân hàng là tập hợp các khoản tín dụng của ngân hàng, được sắp xếp theo các tiêu thức khác nhau, được cơ cấu theo một tỉ lệ nhất định, phục vụ cho các mục đích quản trị của ngân hàng.” Các nhà quản lý NHTM thường sử dụng danh mục tín dụng nhằm định hướng cho hoạt động tín dụng, đảm bảo hiệu quả cấp tín dụng theo hướng lành mạnh, đa dạng hóa, giảm rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận cho ngân hàng thương mại.
Chính bởi lẽ đó, các ngân hàng thương mại thường xây dựng định hướng danh mục tín dụng trong từng thời kỳ và là căn cứ để quản lý hoạt động tín dụng trong kỳ. Danh mục tín dụng của ngân hàng thương mại có thể thiết kế theo các tiêu chí nhất định. Theo tiêu chí thời hạn: Cơ cấu của từng loại tín dụng ngắn, trung và dài hạn phải được thiết kế hợp lí, thể hiện mối quan hệ giữa cơ cấu thời hạn sử dụng vốn và thời hạn nguồn vốn nhằm hạn chế những rủi ro về thanh khoản, lãi suất. Danh mục tín dụng theo ngành kinh tế: Theo tiêu chí này, danh mục tín dụng thể hiện định hướng cần thiết cho hoạt động tín dụng ngân hàng, việc mở rộng hay thu hẹp qui mô tín dụng cho các ngành kinh tế thể hiện cơ cấu dư nợ cho từng ngành và lĩnh vực.
Danh mục tín dụng theo ngành kinh tế thể hiện quan điểm của ngân hàng là tập trung tín dụng vào lĩnh vực chuyên môn hóa hay đa dạng hóa tín dụng. 12 Đứng trên quan điểm hạn chế rủi ro thì danh mục tín dụng theo ngành càng đa dạng càng tốt. Tuy nhiên, chuyên môn hóa dư nợ tín dụng vào một ngành kinh tế lại là hướng đi của nhiều ngân hàng nhằm chiếm lĩnh thị trường cũng như thực hiện chiến lược khách hàng truyền thống. Danh mục tín dụng theo đối tượng khách hàng: Mỗi đối tượng khách hàng thường có đặc điểm khác nhau thường có đặc điểm khác nhau về qui mô, cơ cấu tổ chức và năng lực chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Vì vậy, để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong tín dụng, các ngân hàng thường có xu hướng đa dạng hóa đối tượng khách hàng như khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp hoặc khách hàng doanh nghiệp lớn, nhỏ, vừa. Cơ cấu khách hàng được duy trì tùy thuộc tùy thuộc vào mức độ định lượng rủi ro của ngân hàng về đối tượng khách hàng đó. Danh mục tín dụng theo loại tiền: Ngân hàng có thể duy trì một cơ cấu tín dụng hợp lí giữa nội tệ và ngoại tệ, điều này tùy thuộc vào nhu cầu của khách hàng và mức độ biến động của ngoại tệ so với nội tệ. Đồng thời việc duy trì danh mục tín dụng nội và ngoại tệ còn đảm bảo yêu cầu về cơ cấu nguồn vốn mà ngân hàng huy động được tính theo loại tiền.
Danh mục tín dụng theo hình thức đảm bảo: Theo tiêu chí này, danh mục tín dụng có thể chia thành dư nợ có tài sản đảm bảo (hình thức thế cấp, cầm cố.) và dư nợ tín dụng không có đảm bảo bằng tài sản. Mức độ đảm bảo tiền vay có ảnh hưởng đến rủi ro và tổn thất của ngân hàng nên trên thực tế, ngân hàng thường hạn chế rủi ro bằng việc duy trì danh mục tín dụng theo hướng chủ yếu là dư nợ có đảm bảo bằng tài sản. Danh mục tín dụng theo tính chất sở hữu: Như doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp liên doanh.Mỗi loại hình doanh nghiệp lại có đặc điểm mang tính lịch sử và quan điểm quản lí nền kinh tế theo tính chất sở hữu. Vì vậy, danh mục tín dụng cũng sẽ được dịch chuyển phù hợp với xu hướng phát triển của các thành phần kinh tế.2 Đặc điểm danh mục tín dụng tại ngân hàng thương mại Một là, danh mục tín dụng của NHTM mang tính đa dạng.
Đây là hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại nên có quy mô lớn, được tập hợp từ nhiều khoản tín dụng riêng lẻ, đa dạng về đối tượng khách hàng, mục đích cấp tín dụng, ngành nghề cấp tín dụng, thời hạn cấp tín dụng,…. Do đó, danh mục tín dụng của ngân hàng thương mại rất đa dạng và phong phú. Hai là, danh mục tín dụng là danh mục quan trọng nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại cung cấp đa dạng các sản phẩm, dịch vụ, tuy nhiên, nhận tiền gửi và cấp tín dụng vẫn là hoạt động truyền thống và chủ yếu nhất.
Chính bởi vậy, danh mục tín dụng là danh mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng. Đồng thời, hoạt động tín dụng cũng là hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu nên danh mục tín dụng tạo ra phần lớn thu nhập của ngân hàng. Chính vì vậy, các nhà quản lý ngân hàng thương mại đều quan tâm đặc biệt tới quản lý danh mục tín dụng vì ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của ngân hàng. Ba là, danh mục tín dụng mang tính không ổn định và tính rủi ro.
Với quy mô danh mục tín dụng lớn và đa dạng nên kết cấu danh mục tín dụng thường xuyên biến động do các thành phần của danh mục vận động, thay đổi không ngừng. Chính vì vậy, danh mục tín dụng có tính không ổn định. Ngoài ra, hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại luôn gắn liền với mức độ rủi ro lớn do sự bất cân xứng thông tin. Chính vì vậy, danh mục rủi ro tín dụng của ngân hàng thương luôn tồn tại rủi ro, bao gồm cả rủi ro riêng lẻ với từng khoản tín dụng và rủi ro danh mục với toàn hệ thống.
Bốn là, danh mục tín dụng có tính linh động thấp hơn danh mục đầu tư trong tổng tài sản của ngân hàng. Các khoản tín dụng của ngân hàng thương mại đều gắn liền với thời hạn, trong đó bao gồm cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Đồng thời, quản lý danh mục tín dụng cần đảm bảo cân đối với kỳ hạn của danh mục huy động vốn nên ngân hàng thường khó điều chỉnh danh mục này một cách dễ dàng và nhanh chóng.3 Vai trò của danh mục tín dụng tại ngân hàng thương mại Danh mục tín dụng tại ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng, thể hiện qua các nội dung sau: Danh mục tín dụng là công cụ để nhà quản trị định hướng cho hoạt động cấp tín dụng của mình với mục tiêu khai thác lợi nhuận và giảm thiểu mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Với ý nghĩa đó, danh mục tín dụng tồn tại dưới dạng kế hoạch và được quản lí thực hiện trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng Trên cơ sở thiết kế danh mục tín dụng kế hoạch, các nhà quản trị ngân hàng đưa ra con số dự kiến cơ cấu dư nợ tín dụng phù hợp với những đánh giá, dự đoán biến động của thị trường.
Một danh mục tín dụng đối với ngân hàng phải đảm bảo yêu cầu là đa dạng hóa nhằm phân tán rủi ro cũng như khai thác tốt nhất thế mạnh để tìm kiếm lợi nhuận và tuân thủ qui định pháp luật trong cấp tín dụng.