CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM CỦA J. LOCKE VỀ QUYỀN SỞ HỮU VÀ KHÁI QUÁT “KHẢO LUẬN THỨ HAI VỀ CHÍNH QUYỀN” 1. Điều kiện kinh tế - xã hội hình thành quan niệm của J. Loke về quyền sở hữu 1.
Điều kiện kinh tế - xã hội các nước Tây Âu thế kỷ XVII Bắt đầu từ thế kỷ XVI ở các nước châu Âu đã diễn ra những biến chuyển phức tạp và sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã làm cho công cụ sản xuất được cải tiến và ngày càng hoàn thiện. Việc sáng chế ra máy kéo sợi, máy in, các loại đồng hồ cơ học đã làm cho bộ mặt nền sản xuất và năng suất lao động thay đổi theo hướng ngày càng tiến bộ. Qúa trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ ở châu Âu đã làm thay đổi căn bản cách thức sản xuất chủ yếu từ lao động thủ công sang sản xuất bằng máy móc và từng bước hình thành cơ cấu công nghiệp hoàn chỉnh, từ sản xuất quy mô nhỏ lên sản xuất quy mô lớn.
Nền sản xuất công trường thủ công đã dần thay thế cho nền kinh tế tự nhiên ở các nước ven Địa Trung Hải và nhanh chóng lan rộng ra các nước Anh, Pháp… Những phát kiến về địa lý như việc tìm ra châu Mỹ, tìm ra đường hàng hải vòng quanh châu Phi càng tạo điều kiện cho thương nghiệp phát triển, thị trường trao đổi hàng hóa giữa các nước được mở rộng. Các nước tư bản phát triển sớm như Anh, Pháp, Tây Ban Nha thi nhau tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa, nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên và để mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa của mình. Đồng thời, với sự phát triển của sản xuất, sự phát triển thương nghiệp và công nghiệp là sự phân hóa giai cấp trong xã hội châu Âu thời kì này ngày càng rõ rệt. Lúc này, cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai 11 cấp tư sản đang trưởng thành và ngày càng lớn mạnh.
Giai cấp nông dân bị địa chủ phong kiến bóc lột nặng nề, không có ruộng đất, đời sống ngày càng cùng cực, hàng loạt nông dân đã phải rời bỏ quê hương di cư đến thành phố, trở thành người làm thuê cho các công trường, xưởng thợ. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất đã làm cho quan hệ sản xuất phong kiến không còn phù hợp và trở thành “xiềng xích”, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, ngăn cản sự phát triển của xã hội. Giai cấp tư sản ngày càng có vai trò to lớn trong sự phát triển của xã hội nhưng lại không có quyền lực về chính trị, không chấp nhận được những đạo luật hà khắc của chế độ phong kiến đã lỗi thời, lạc hậu. Điều đó dẫn đến việc giai cấp tư sản cùng kết hợp với những giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội đứng lên đấu tranh nhằm xoá bỏ chế độ phong kiến và thiết lập bình đẳng pháp luật, đảm bảo tự do an ninh cá nhân và quyền sở hữu tư nhân, bằng cách tạo ra những sự bảo đảm cần thiết về chính trị và pháp lý.
Vì vậy, thời kỳ này đã diễn ra hàng loạt các cuộc cách mạng tư sản ở các nước như: Hà Lan (1560 – 1570), Anh (1642 – 1648), Pháp (1789 -1794)…. Những sự biến đổi phức tạp và sâu sắc của các nước Tây Âu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội thời kỳ này đã có sự tác động mạnh mẽ đến điều kiện kinh tế - xã hội nước Anh thế kỷ XVII. Điều kiện kinh tế - xã hội nước Anh thế kỷ XVII Hòa cùng bối cảnh châu Âu lúc đó, bước sang nửa sau của thế kỉ XVII, nước Anh đã đạt tới sự phát triển cao về kinh tế - xã hội, Anh đã trở thành một trong những cường quốc tư bản lớn bấy giờ. Những phát minh mới về kỹ thuật của thế giới đã được nước Anh áp dụng thành công vào sự nghiệp phát triển đất nước, làm cho năng suất lao động tăng lên.
Đặc biệt là ngành sản xuất len dạ - ngành sản xuất có truyền thống lâu đời ở Anh, đến thế kỷ XVII đã mở rộng ra cả nước, đã cung cấp một lượng hàng xuất khẩu lớn chiếm khoảng 80% toàn bộ hàng xuất khẩu của nước Anh sang bên ngoài. 12 Sự phát triển công nghiệp đã thúc đẩy thương nghiệp Anh phát triển, thương nhân Anh mở rộng buôn bán với thị trường thế giới, thành lập các công ty thương nghiệp hoạt động từ biển Ban Tích đến châu Phi, từ Trung Quốc đến châu Mỹ…. Các ngành công nghiệp, thương nghiệp, hàng hải…phát triển tới mức độ chưa từng có, tạo nên những yếu tố cách mạng trong lòng xã hội phong kiến đang tan rã một quan hệ sản xuất mới – quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dần dần hình thành. Ở nước Anh lúc đó đã xuất hiện những công trường thủ công tập trung với hàng trăm ngàn lao động làm thuê.
Mặc dù đã có một số thành tựu về công nghiệp, thương nghiệp nhưng ở Anh đầu XVII vẫn là một nước nông nghiệp. Trong số 2,5 triệu dân chỉ có 1/5 sống ở thành thị, số còn lại sống ở nông thôn. Quan hệ sản xuất phong kiến vẫn còn thống trị, nông dân làm ruộng phải nộp tô cho địa chủ theo kỳ hạn và theo mức quy định. Cho nên xét về thân phận, mặc dù họ được tuyên bố là tự do, chế độ nông nô được bãi bỏ nhưng địa chủ vẫn có quyền xét xử và quyền quản lý về hành chính đối với những người sống trong trang viên, lãnh địa của họ.
Ngoài phần đất của địa chủ và nông dân chiếm làm tư hữu, nước Anh lúc đó vẫn còn phần ruộng đất công xã như đất hoang, rừng núi, đồng cỏ thuộc quyền sở hữu chung, tất cả mọi người được sử dụng để chăn nuôi. Để duy trì vị thế kinh tế của mình giai cấp tư sản Anh càng mở rộng các hoạt động thương nghiệp, cho vay nặng lãi, thậm chí xâm nhập cả vào lĩnh vực nông nghiệp. Do sự phát triển của ngành công nghiệp len dạ, nên nghề nuôi cừu ở Anh trở thành nghề đem lại lợi nhuận cao nhất, để có được lợi nhuận cao nhất, giai cấp tư sản không từ một thủ đoạn nào để tước đoạt ruộng đất của nông dân. Những người nông dân hiền lành bị đuổi ra khỏi mảnh đất của mình, sống cuộc đời cùng cực.
Giai cấp tư sản Anh thu được nhiều lợi nhuận từ việc tước đoạt ruộng đất, mở rộng thị trường, có tiềm lực kinh tế ngày càng lớn mạnh nhưng lại dẫn đến một mâu thuẫn mới là họ không có quyền lực chính trị, do quyền lực chính trị vẫn nằm trong tay các thế lực phong kiến. 13 Những biến động kinh tế đã kéo theo những biến đổi sâu sắc về mặt xã hội. làm cho những mâu thuẫn xã hội của nước Anh trở nên gay gắt. Trong giai cấp quý tộc Anh có sự phân hóa sâu sắc: Quý tộc cũ đại diện cho thế lực phong kiến, họ có nhiều đặc quyền đặc lợi nên họ chủ trương bảo vệ ngôi vua và duy trì sự tồn tại vĩnh viễn của chế độ phong kiến; Trong khi đó tầng lớp quý tộc mới hình thành – tức quý tộc đã tư sản hóa, có quyền lợi gắn chặt với giai cấp tư sản.
Tầng lớp này đại diện cho chế độ Nghị viện, họ là những người có quyền lực về kinh tế nhưng lại không có quyền lực chính trị. Do vậy, họ có thái độ thù địch với nhà vua, trở thành tầng lớp tư sản tích cực trong cuộc đấu tranh chống phong kiến. Quan hệ sản xuất phong kiến lúc này đã không còn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mới nữa, tất yếu trở thành lực cản đối với sự phát triển của xã hội, cản trở sự phát triển của giai cấp tư sản. Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, tất yếu dẫn đến những cuộc đấu tranh về chính trị.
Đến giữa thế kỷ XVII, chế độ phong kiến Anh trở nên phản động, kìm hãm sự phát triển và tiến bộ xã hội. Do sự phát triển của lực lượng sản xuất, giai cấp tư sản Anh dần dần lớn mạnh, họ mong muốn nhanh chóng xoá bỏ chế độ phong kiến. Trong lúc đó vua Charles I âm mưu phục hồi chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến và lợi dụng những tranh chấp giữa phái Trưởng lão và phái Độc lập trong Nghị viện để tiến hành cuộc phản kích, dẫn đến bùng nổ cuộc nội chiến lần II năm 1648. Cromwell (1599 – 1658) là một trong những lãnh tụ xuất sắc của phái Độc lập, tiêu biểu cho tầng lớp quý tộc mới loại vừa, ông là người có sức lực dồi dào, một nhà tổ chức và một nhà chỉ huy giỏi.
Ông vốn là một tín đồ Thanh giáo, phấn đấu cả đời vì sự nghiệp Thanh giáo. Phẩm chất con người ông rất cao thượng và không có dục vọng quyền lực, song sóng gió của cách mạng đã đẩy ông đến đỉnh cao của quyền lực. Cromwell đã tập hợp quần chúng nhân dân và giai cấp tư sản, quý tộc mới chống lại chế độ phong kiến nhằm thủ tiêu vương quyền, xoá bỏ cơ quan quyền lực của giới quý tộc cha truyền con nối. 14 Cuộc cách mạng thành công, phe cách mạng thắng lợi, Charles I bị xử tử đánh dấu một bước tiến mới của cách mạng và thiết lập nền bảo hộ của Cromwell.
Cromwell trở thành “Nhà bảo hộ” độc tài, nắm trong tay mọi quyền hành và có quyền hạn tuyệt đối, Cromwell xây dựng một chính quyền có “bàn tay sắt”, vừa có khả năng trấn áp phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân trong nước vừa có khả năng chiến thắng những quốc gia bên ngoài. Tuy nhiên, chính quyền bảo hộ cũng không thoát khỏi những khó khăn ngày càng trầm trọng, trong khi đó làn sóng căm phẫn của nhân dân vẫn không ngừng bùng lên và lan trong toàn quốc. Sự sụp đổ của chế độ bảo hộ sau cái chết của Cromwell được nối tiếp bằng sự phục hồi của Charles II, với việc trở về với nền quân chủ, viện quý tộc và giáo hội. Điều này đã đe doạ giai cấp tư sản và quý tộc mới, đồng thời khiến nước Anh tiếp tục có những xung đột mới giữa quốc vương với nghị viện.
Bên cạnh những mâu thuẫn về mặt chính trị, ở nước Anh xảy ra những tranh cãi về sự khoan dung tôn giáo diễn ra trong thời gian 1660 – 1688 giữa người Tin lành, người Anh giáo và người Công giáo.