phần mở đầu, kết luận, các danh mục bảng biểu, hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo luận văn đƣợc chia làm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ NVNN, cơ sở lý luận và bài học kinh nghiệm thực tế các địa phƣơng. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ NVNN trên địa bàn tỉnh Thái Bình. Chƣơng 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ NVNN trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong thời gian tới.
6 z CHƢƠNG 1: QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NHÀ NƢỚC, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM THỰC TIỄN Ở CÁC ĐỊA PHƢƠNG 1. Cơ sở lý luận chung về quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn Nhà nước. Một số khái niệm cơ bản. a há n ệm về đầu tư Đầu tƣ, theo cách hiểu thông thƣờng trong xã hội, là việc bỏ vốn ra bằng các tài sản hữu hình hoặc vô hình nhằm kinh doanh để đạt lợi nhuận nào đó.
Các lý thuyết kinh tế đều cho rằng, đầu tƣ là việc huy động một hoặc một số nguồn lực trong các nguồn lực: Tiền, tài nguyên thiên nhiên, lao động, trí tuệ và đƣa ra để tiến hành các hoạt động cụ thể nào đó trong một khoảng thời gian dài hạn với mục đích thu đƣợc các kết quả trong tƣơng lai về tiền, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực lớn hơn nguồn lực bỏ ra theo một cách tính toán nào đó. Trong đó có những kết quả mà không chỉ ngƣời đầu tƣ mà cả nền kinh tế đƣợc hƣởng thụ. Có thể chia đầu tƣ làm 2 loại: Đầu tƣ thƣơng mại và ĐTPT. Đầu tƣ thƣơng mại là loại đầu tƣ mà nhà đầu tƣ bỏ tiền mua hàng hóa và sau đó bán lại với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận.
Loại đầu tƣ này không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến ngoại thƣơng) mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của ngƣời đầu tƣ trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa ngƣời bán với ngƣời đầu tƣ và ngƣời đầu tƣ với khách hàng (Luật Ngân sách, 2002) ĐTPT là loại đầu tƣ trong đó ngƣời đầu tƣ bỏ tiền ra tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, tạo điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi ngƣời dân trong xã hội. Trên góc độ tài chính, 7 z ĐTPT là quá trình chi tiêu để duy trì sự phát huy tác dụng của vốn cơ bản hiện có và bổ sung vốn cơ bản mới cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế xã hội trong dài hạn. Hoạt động đầu tƣ loại này có thể do tƣ nhân tiến hành (đầu tƣ tài sản thiết bị cho sản xuất của doanh nghiệp), cũng có thể do Nhà nƣớc thực hiện. (Luật Ngân sách, 2002) Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập tới hoạt động ĐTPT để tạo ra các tài sản cố định của nền kinh tế, cụ thể là đầu tƣ XDCB và chỉ đƣợc xem xét nghiên cứu đầu tƣ xây dựng công trình (XDCT) từ NVNN trên địa bàn tỉnh Thái Bình do các cấp chính quyền địa phƣơng của tỉnh Thái Bình quản lý.
Một số khá n ệm về đầu tư XDCB. Xây dựn cơ bản là một khâu trong hoạt động đầu tƣ xây dựng cơ bản. Kết quả của hoạt động xây dựng cơ bản là tạo ra các tài sản cố định có năng lực sản xuất và phục vụ nhất định. Cũng có thể nói: Xây dựng cơ bản là một quá trình đổi mới và tái sản xuất có kế hoạch các tài sản cố định của nền kinh tế quốc dân trong các ngành sản xuất vật chất cũng nhƣ không sản xuất vật chất.
Nó thực hiện phƣơng thức xây dựng mới, xây dựng lại, khôi phục và mở rộng các tài sản cố định. Đầu tư xây dựn cơ bản là hoạt động đầu tƣ thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng mới tài sản cố định, bao gồm các hoạt động đầu tƣ vào lĩnh vực xây dựng cơ bản (khảo sát, tƣ vấn xây dựng, thi công xây lắp công trình, sản xuất và cung ứng thiết bị vật tƣ xây dựng…) nhằm thực hiện xây dựng các công trình. Vốn đƣợc xem là toàn bộ những yếu tố đƣợc sử dụng vào việc sản xuất ra các của cải; vốn tạo nên sự đóng góp quan trọng đối với sự tăng trƣởng của nền kinh tế. Vốn đầu tư cùng với lao động và đất đai là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của mọi quá trình sản xuất.
Lý thuyết kinh tế hiện đại ngày nay đề 8 z cập vốn đầu tƣ theo quan điểm rộng hơn, đầy đủ hơn, bao gồm cả đầu tƣ để nâng cao tri thức, thậm chí bao gồm cả đầu tƣ để tạo ra nền tảng, tiêu chuẩn đạo đức xã hội, môi trƣờng kinh doanh (nguồn vốn xã hội) cũng là những đầu tƣ quan trọng của quá trình sản xuất. Theo Luật Đầu tƣ của Việt Nam: “Vốn đầu tƣ là tiền và tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tƣ theo hình thức đầu tƣ trực tiếp hoặc đầu tƣ gián tiếp” (Luật Đấu thầu, 2005) c. Một số khá n ệm vốn đầu tư XDCB từ NVNN. Nguồn vốn ĐTPT kinh tế của một nƣớc đƣợc hình thành từ hai nguồn vốn: Nguồn vốn trong nƣớc và nguồn vốn nƣớc ngoài.
Đối với nƣớc ta và các nƣớc đang phát triển khác, đứng trƣớc thực trạng của nền kinh tế có tốc độ tăng trƣởng chậm, thu nhập bình quân đầu ngƣời thấp, nguồn vốn tiết kiệm so với GDP còn rất hạn hẹp, việc kết hợp huy động vốn nƣớc ngoài với vốn trong nƣớc, trong đó vốn trong nƣớc có vai trò quyết định. Khi đề cập đến vai trò của từng nguồn vốn, nguồn vốn trong nƣớc là quyết định và nguồn vốn bên ngoài là quan trọng. Nhƣ vậy, cần phải kết hợp huy động cả hai nguồn vốn để ĐTPT kinh tế, trong đó nguồn vốn trong nƣớc có ý nghĩa chiến lƣợc đối với sự tăng trƣởng chiến lƣợc của mỗi quốc gia. Để phù hợp với phạm vi của đề tài, trong phạm vi chỉ trình bày về nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc.
Nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc đƣợc hình thành chủ yếu từ: tiết kiệm của Chính phủ, tiết kiệm của dân cƣ, tiết kiệm của doanh nghiệp và vốn huy động thông qua sử dụng các tài sản quốc gia, ngoài ra nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc có thể hình thành từ tài trợ nƣớc ngoài, dƣới hình thức vay hoặc nhận viện trợ của Chính phủ. Vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản từ NVNN bao gồm các nguồn vốn đầu tƣ từ ngân sách nhà nƣớc (NSNN), vốn vay trong nƣớc (trái phiếu Chính phủ, tín dụng ngân hàng do Nhà nƣớc bão lãnh và vốn tín dụng ĐTPT của nhà nƣớc), vốn vay nƣớc ngoài và vốn đầu tƣ của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nƣớc. 9 z * Vốn đầu tƣ XDCB từ ngân sách Nhà nƣớc. Điều 1 Luật Ngân sách (2002) của Việt Nam: “N ân sách nhà nước à toàn bộ các khoản thu, ch của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy t đ nh và được thực h ện tron một năm để bảo đảm thực h ện các chức năn , nh ệm vụ của Nhà nước”.
(Luật Ngân sách, 2002) “Thu n ân sách nhà nước bao ồm các khoản thu từ thu , phí, ệ phí; các khoản thu từ hoạt độn k nh t của Nhà nước; các khoản đón óp của các tổ chức và cá nhân; các khoản v ện trợ; các khoản thu khác theo quy đ nh của pháp u t”. “Ch n ân sách nhà nước bao ồm các khoản ch phát tr ển k nh t - xã hộ , bảo đảm quốc phòn , an n nh, bảo đảm hoạt độn của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; ch v ện trợ và các khoản ch khác theo quy đ nh của pháp u t”. Căn cứ theo phân cấp quản lý NSNN, chia nguồn vốn đầu tƣ từ NSNN thành: Vốn đầu tƣ từ NSNN Trung ƣơng và vốn đầu tƣ từ NSNN địa phƣơng. Từ khái niệm đầu tƣ XDCB và sự phân tích về NSNN có thể hiểu khái niệm vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN là một phần của vốn ĐTPT của NSNN đƣợc hình thành từ sự huy động của Nhà nƣớc dùng để chi cho đầu tƣ XDCB nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho nền kinh tế quốc dân.
(Nguyễn Bá Dƣơng, 2014) * Vốn vay trong nƣớc: Bao gồm vốn từ các quỹ ĐTPT của Nhà nƣớc đƣợc cấp không hoàn trả cho các dự án đầu tƣ không nhằm mục đích kinh doanh, có nguồn vốn tín dụng đầu tƣ Nhà nƣớc bảo lãnh có mực độ ƣu đãi nhất định; nguồn vốn từ trái phiếu Chính phủ, đây là nguồn vốn vay của nhân dân để đầu tƣ cho phát triển. 10 z * Vốn vay nƣớc ngoài: Là khoản tiền mà Chính phủ vay nợ, nhận viện trợ từ bên ngoài thông qua các kênh hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) để tập trung đầu tƣ cho những dự án đƣợc cam kết với nhà tài trợ. Đặc điểm vốn đầu tư XDCB. Thứ nhất, trong ĐTXDCB của nhà nƣớc, vốn là vốn của nhà nƣớc mà không phải là của tƣ nhân, do vậy rất khó quản lý sử dụng, dễ xảy ra thất thoát, lãng phí, tham nhũng.
Quyền sở hữu về vốn không trùng hợp với quyền sử dụng và quản lý vì thế trách nhiệm quản lý vốn không cao. Động lực cá nhân đối với việc sử dụng hiệu quả đồng vốn không rõ ràng, mạnh mẽ nhƣ nguồn vốn tƣ nhân. Vì vậy việc quản lý hiệu quả vốn trong ĐTXDCB của nhà nƣớc rất khó khăn, phức tạp. Thứ ha , về lĩnh vực đầu tƣ, ĐTXDCB của nhà nƣớc thƣờng nhằm vào lĩnh vực ít đƣợc thƣơng mại hoá, không thu hồi vốn ngay, ít có tính cạnh tranh.
ĐTXDCB của nhà nƣớc thƣờng ít nhắm tới mục tiêu lợi nhuận trực tiếp. Nó phục vụ lợi ích của cả nền kinh tế, trong khi ĐTXDCB của tƣ nhân và đầu tƣ nƣớc ngoài thƣờng đề cao lợi nhuận. Thứ ba, phạm vi ĐTXDCB của nhà nƣớc ở từng giai đoạn lịch sử nhất định phải tự định đoạt cho mình phạm vi ĐTXDCB để đạt đƣợc mục tiêu mà nhà nƣớc đặt ra. Nhà nƣớc phải quyết định ĐTXDCB ở đâu, công trình nào, nhằm mục đích gì, để giải quyết những vấn đề gì.