Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Trung ương. Chuơng 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách trung ương tại Công an tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách trung ương tại Công an tỉnh Vĩnh Phúc.
3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH TRUNG ƢƠNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của tác giả Nguyễn Thái Hòa về "Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB tạiBộ công an", 2013. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính của tác giả Dƣơng Cao Sơn về "Hoàn thiện công tác quản lý chi vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn NSTW tạiBộ công an", 2013. Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Lê Xuân Kinh về "Tăng cường quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSTW ở Bộ công an", 2013.
Tuy nhiên các công trình khoa học này đa số nghiên cứu từ góc độ tài chính, hoặc về cơ chế quản lý, hoặc về tình hình cụ thể ở một đơn vị, địa phƣơng. Do đó, các đề tài ít đề cập đến giác độ tổng thể của quản lý vi vô và vĩ mô, tác động qua lại giữa các chủ thể tham gia vận hành vốn, nghiên cứu cơ chế tác động với tất cả các yếu tố chi phí sử dụng vốn với các chỉ tiêu xem xét, phân tích đánh giá phù hợp hơn trong cơ chế mới. Mặt khác đề tài này vận dụng các lý luận khoa học để nghiên cứu tại hẹp, mặt bằng chung về quản lý và kinh tế hội không cao nhƣng đang xuất hiện nhiều nhân tố, nhiều dự án lớn mà nguồn ngân sách sẽ đầu tƣ. Qua nghiên cứu có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu về quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản là khá đa dạng, Tuy nhiên, chƣa có một đề tài nào nghiên cứu sâu, cụ thể quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách trung ương đối với Công an tỉnh Vĩnh Phúc Do vậy 4 z đề tài “Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Trung ương tại Công an tỉnh Vĩnh Phúc” vẫn có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách trung ƣơng 1. Khái niệm về vốn đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách trung ương 1. Khái niệm về vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách trung ương “Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Trung ương là nguồn vốn đầu tư chủ yếu, quyết định sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội, là nền tảng để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Nhà nƣớc của bất kỳ quốc gia nào cũng đặc biệt quan tâm đến hoạt động đầu tƣ trong lĩnh vực này vì nó có tính hệ thống, vốn rất lớn chỉ có Nhà nƣớc mới có khả năng (đảm bảo 100% hoặc hỗ trợ…). Nhƣ vậy, theo nghĩa rộng, đầu tƣ có thể hiểu là quá trình bỏ vốn (tiền, nguồn lực và công nghệ) để đạt đƣợc mục đích nhất định.
Mục đích có thể là chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Các khía cạnh khác nhau của hoạt động đầu tƣ bao gồm: Thứ nhất: Đầu tƣ là việc đƣa một lƣợng vốn nhất định vào quá trình hoạt động kinh tế nhằm thu lại một lƣợng lớn hơn sau một khoảng thời gian nhất định. Đây là điểm phân biệt giữa hoạt động đầu tƣ và hoạt động mua sắm tiêu dùng (cũng là hành động bỏ tiền tích lũy đƣợc). + Chi phí cho các hoạt động thƣờng xuyên nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất đƣợc duy trì gọi là hoạt động sản xuất kinh doanh. + Chi phí nhằm vào mục đích nâng cao năng lực sản xuất (số lƣợng, chất lƣợng) là hoạt động đầu tƣ.
Thứ hai: có thể hiểu khái niệm đầu tƣ theo quan điểm tái sản xuất mở rộng. Đầu tƣ thực tế là quá trình chuyển hóa vốn thành các yếu tố cần thiết 5 z cho việc tạo ra năng lực sản xuất, tạo ra các yếu tố cơ bản, tiên quyết cho quá trình phát triển sản xuất. Thứ ba: Hoạt động đầu tƣ đƣợc tiến hành dƣới 2 hình thức: đầu tƣ gián tiếp và đầu tƣ trực tiếp. - Đầu tƣ gián tiếp là hình thức bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm đem lại hiệu quả nhƣng ngƣời có vốn không tham gia trực tiếp quản lý hoạt động đầu tƣ nhƣ: mua cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, tín dụng … Đây là loại hình khá phát triển hiện nay: cá nhân ngƣời có vốn không trực tiếp kinh doanh; Chính phủ một số nƣớc cũng thông qua hình thức này cho vay ƣu đãi để kích thích kinh tế.
- Đầu tƣ trực tiếp là hoạt động đầu tƣ mà ngƣời có vốn tham gia trực tiếp vào hoạt động và quản lý hoạt động đầu tƣ. Hoạt động đầu tƣ này có thể dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣ: hợp đồng liên danh, các công ty cổ phần, trách nhiệm hữu hạn… Đầu tƣ trực tiếp có thể chia thành 2 nhóm: đầu tƣ chuyển dịch và đầu tƣ phát triển. + Đầu tư chuyển dịch: là sự chuyển dịch vốn đầu tƣ từ một ngƣời này sang ngƣời khác theo cơ chế thị trƣờng. Ví dụ việc mua cổ phần trong một doanh nghiệp, xí nghiệp, công ty.
Việc chuyển dịch sở hữu các cổ phần không làm thay đổi vốn nhƣng có khả năng tạo ra một năng lực quản lý mới, năng lực xã hội mới. + Đầu tư phát triển: là hình thức đầu tƣ quan trọng và chủ yếu. Ngƣời có vốn đầu tƣ gắn liền với hoạt động kinh tế của đầu tƣ. Hoạt động đầu tƣ trong trƣờng hợp này nhằm nâng cao năng lực của các cơ sở sản xuất hiện có, tạo ra năng lực sản xuất mới.
Đây là hình thức tái sản xuất mở rộng. Hình thức đầu tƣ này tạo ra việc làm mới, sản phẩm mới và thúc đẩy kinh tế phát triển. 6 z Vốn đầu tƣ là vốn của Nhà nƣớc, của tổ chức hoặc của cá nhân nhằm thực hiện đầu tƣ phát triển nói chung và trong lĩnh vực đầu tƣ xây dựng cơ bản nói riêng. Nếu chỉ dừng lại ở phạm vi vốn tích lũy theo khái niệm thông thƣờng thì ít quốc gia nào trên thế giới có khả năng đầu tƣ lớn.
Vốn đầu tƣ bao gồm vốn tích lũy, vốn tự có và vốn đi vay. Trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta, hình thức đầu tƣ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc chủ yếu dành cho các công trình văn hóa, xã hội, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội… không có khả năng thu hồi vốn hoặc thu hồi rất chậm nhƣng nó tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển. Đầu tƣ từ nguồn vốn của Nhà nƣớc là quá trình Nhà nƣớc sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc đầu tƣ vào phát triển kinh tế xã hội. Phần đầu tƣ này chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Ngân sách Nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc trong dự toán đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nƣớc. Ngân sách nhà nƣớc bao gồm ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa phƣơng. Ngân sách trung ƣơng là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ƣơng. Ngân sách địa phƣơng bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân.
Nguồn vốn đầu tƣ từ nguồn ngân sách nhà nƣớc có ý nghĩa quyết định để thực hiện tốt nhất các chủ trƣơng, chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nƣớc. Đối với nƣớc ta, đây là điều kiện vật chất để ổn định và củng cố chế độ chính trị, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nƣớc cũng nhƣ không ngừng cải thiện đời sống nhân dân. 7 z Đầu tƣ xây dựng cơ bản phải tuân thủ tính hiệu quả theo những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Vậy hoạt động đầu tƣ trong các lĩnh vực đều phải xác định đƣợc mục tiêu cụ thể về thời gian và không gian trên cơ sở phân tích, tính toán để đảm bảo hoạt động đầu tƣ mang lại hiệu quả ngày càng cao.
Vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách Trung ƣơng là toàn bộ những chi phí từ nguồn Ngân sách Trung ƣơng đầu tƣ để đạt đƣợc những mục tiêu kinh tế - xã hội, bao gồm toàn bộ chi phí bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ (nếu có); chi phí xây dựng; chi phí thiết bị; chi phí quản lý dự án; chi phí tƣ vấn đầu tƣ xây dựng; chi phí khác và chi phí dự phòng cho khối lƣợng phát sinh và trƣợt giá. Khái niệm về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách trung ương Quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản từ Ngân sách Trung ƣơnglà quá trình Nhà nƣớc điều khiển và hƣớng dẫn bằng tổng thể các biện pháp, công cụ, cách thức tác động vào hoạt động đầu tƣ từ quá trình hình thành (huy động), phân phối (cấp phát) đến sử dụng vốn từ Ngân sách Trung ƣơng để đạt các mục tiêu kinh tế- xã hội đề ra trong từng giai đoạn. Vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản từ Ngân sách Trung ƣơng đƣợc Nhà nƣớc quản lý bằng các chính sách mang tầm quốc gia, nhất là chính sách kinh tế vĩ mô sẽ làm căn cứ xác định mục tiêu của Nhà nƣớc. Đối với dự án sử dụng vốn Ngân sách thì Nhà nƣớc quản lý toàn bộ quá trình đầu tƣ xây dựng, từ việc xác định chủ trƣơng đầu tƣ, lập dự án, quyết định đầu tƣ, lập thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao đƣa công trình vào khai thác sử dụng.