Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn nền kinh tế tri thức.
Vì vậy việc nâng cao hiệu quả chất lượng GD & ĐT sẽ là yếu tố sống còn và quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia. Việc áp dụng những công nghệ mới vào GD, trong đó có CNTT, chính là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng GD. Trong phạm vi cho phép, đề tài đề cập đến một số hướng nghiên cứu sau: Tổ chức GD, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO dự báo: CNTT sẽ làm thay đổi nền GD một cách cơ bản và toàn diện, có hệ thống và mang tính hội nhập cao vào đầu thế kỉ XXI. Sự bùng nổ và phát triển về công nghệ GD sẽ tạo ra những phương thức GD phi truyền thống, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền GD mang tính chuyển đổi sâu sắc vì con người (“dạy học cho mọi người và mỗi người”, “sự gia tăng tri thức và nhu cầu chia sẻ”, “tập trung hóa kiến thức và dịch chuyển năng lực”, “các yếu tố bền vững, truyền thống và sự hội nhập trong không gian GD”…).
Quá trình này dẫn đến sự cần thiết phải nhìn nhận lại giá giá trị và ý nghĩa của việc dạy học (GD nói chung) dưới góc độ mối quan hệ giữa sự phát triển của công nghệ và những thay đổi về bản chất của quá trình thực thi các chương trình GD. Trên thế giới, các nước có nền GD phát triển đều chú trọng đến việc UDCNTT như: Mỹ, Australia, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore,. Để UDCNTT được như ngày nay, các nước này đã trải qua rất nhiều các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như UDCNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và GD. Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khoá để xây dựng và phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên 8 toàn thế giới.
Vì vậy, họ đã thu được những thành tựu rất đáng kể trên các lĩnh vực như: điện tử, sinh học, y tế, GD. Tác giả Ngô Quang Sơn đã đề cập đến UDCNTT vào GD tại Cộng hòa Pháp: Một chính sách quốc gia đầu tiên mang tên Plan de Cancul đề xuất vào giữa những năm 60 dưới thời Tổng thống Đờ Gôn (De Gaullé) (Ngô Quang Sơn, 2007). Tóm lại, trên thế giới hiện nay, việc UDCNTT vào phát triển GD đã mang lại hiệu quả cao trong mọi lĩnh vực của đời sống, khoa học kĩ thuật. Muốn đẩy mạnh UDCNTT trong GD, chúng ta cần đảm bảo các yếu tố về cơ sở hạ tầng CNTT, về nhân lực, vật lực và tài lực.
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam, ngay từ những năm 2001 cũng đã có chương trình quốc gia về CNTT (1996-2000) và Đề án thực hiện về CNTT tại các cơ quan Đảng (2003-2005) ban hành kèm theo Quyết định 47 của Ban Bí thư trung ương Đảng. Mặt khác, tại các cơ quan QL nhà nước đã có Đề án tin học hoá QL hành chính nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số: 112/2001/QĐ - TTg ngày 25/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ về GD,. Chỉ thị 58/CT - TƯ ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nêu rõ việc đẩy mạnh UDCNTT trong công tác GD&ĐT. Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ra Chỉ thị 29/2001/CT-BGD ĐT, ngày 30/7/2001, nêu rõ: “Tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ GD&ĐT, kết nối internet đến tất cả các cấp QL và cơ sở GD, hình thành một mạng GD (EduNet) nhằm tăn cường giảng dạy, đào tạo và UDCNTT trong giai đoạn 2001-2005.
Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu, tìm hiểu học tập các nước về QL UDCNTT trong hệ thống GD để áp dụng ở Việt Nam nhưng không nhiều. Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu QL và UDCNTT trong hệ thống GD ở Việt Nam đã được được nhiều đơn vị quan tâm hơn. Nhận thức được tầm quan trọng của CNTT, thời gian gần đây Bộ GD&ĐT đã đề cập đến một số văn bản, Nghị định, hướng dẫn UDCNTT vào QL, dạy học, nghiên cứu khoa học như: Thông tư số 26/2019/TT-BGDĐT ngày 30/12/2019 Quy định về QL, vận hành và sử dụng Hệ thống cơ sở dữ liệu ngành về GD mầm non, GD phổ 9 thông và GD thường xuyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2019); Quyết định số 74/QĐ- CNTT ngày 12/11/2019 Công bố hệ thống QL chất lượng tại Cục CNTT phù hợp Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2019); Hướng dẫn triển khai mô hình UDCNTT trong trường phổ thông, 5807/BGDĐT-CNTT (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2019); Công văn số 4095/BGDĐT-CNTT ngày 10/9/2018 về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2018 – 2019 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2019); Kế hoạch Thực hiện Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng GD & ĐT giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2019). Gần đây các hội nghị, hội thảo hay trong các đề tài nghiên cứu khoa học về CNTT và GD đều có đề cập đến vấn đề QL UDCNTT trong GD và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và UDCNTT và truyền thông ICT 2/2003; Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ hai về nghiên cứu phát triển và UDCNTT và truyền thông ICT 9/2004; Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do viện CNTT (Đại học Quốc gia Hà Nội) và khoa CNTT (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về ứng dụng trong hệ thống GD đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam; Hội thảo quốc gia về CNTT&TT lần thứ IV vừa diễn ra tại thành phố Huế với chủ đề: “CNTT và sự nghiệp GD – y tế” là: làm thế nào để thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động UDCNTT nhằm phục vụ một cách hiệu quả nhất cho sự phát triển của GD trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế của chúng ta.
Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT&TT: “Các giải pháp công nghệ và QL trong UDCNTT&TT vào đổi mới phương pháp dạy học” do trường ĐHSP Hà Nội phối hợp với dự án GD đại học tổ chức từ 9-10/12/2006. Nội dung hội thảo gồm các chủ đề chính sau: Các giải pháp về công nghệ trong đổi mới phương pháp dạy (phổ thông, đại học và trên đại học): công nghệ tri thức, công nghệ mã nguồn mở, các hệ nền và công cụ tạo nội dung trong e-learning, các chuẩn trao đổi nội dung bài giảng, công nghệ trong kiểm tra đánh giá, …; các giải pháp, chiến lược phát triển UDCNTT&TT vào đổi mới phương pháp dạy học: chiến lược phát triển, kinh nghiệm 10 QL, mô hình tổ chức trường học điện tử, mô hình dạy học điện tử, …; các kết quả và kinh nghiệm của việc UDCNTT trong dạy học: xây dựng và sử dụng phần mềm dạy học, kho điện tử,. Trong các hội thảo, các nhà khoa học, các nhà QL đã mạnh dạn đưa ra các vấn đề nghiên cứu vị trí tầm quan trọng, ứng dụng và phát triển CNTT đặc biệt là các giải pháp thúc đẩy UDCNTT trong GD. Gần đây đã có một số đề tài khoa học nghiên cứu về UDCNTT trong lĩnh vực GD ở nước ta, chẳng hạn như: Luận văn thạc sĩ “Một số biện pháp tổ chức triển khai việc UDCNTT vào giảng dạy của hiệu trưởng trường TH Văn Lang thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ” (Trần Thị Đản, 2006).
Luận văn thạc sĩ “Một số biện pháp chỉ đạo việc đẩy mạnh UDCNTT trong công tác QL dạy học tại các trường THPT” (Nguyễn Văn Tuấn, 2006). Luận văn thạc sĩ “Biện pháp UDCNTT trong QL dạy học ở các trường Tiểu học huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình” (Nguyễn Xuân Cảnh, 2008). Luận văn thạc sĩ “QL UDCNTT trong dạy học ở các trường THCS Huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh” (Nguyễn Huy Hải, 2017) Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định QL hoạt động dạy và học theo hướng tăng cường UDCNTT có một ý nghĩa và vai trò rất quan trọng đối với chất lượng và hiệu quả GD, là nhân tố trọng yếu nâng cao chất lượng GD. Đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về QL UDCNTT trong học tập của HS cấp THCS.
Vì vậy, việc thực hiện đề tài này sẽ không trùng lắp, đảm bảo tính độc lập và có ý nghĩa lí luận và thực tiễn lớn đối với việc nâng cao hiệu quả QL UDCNTT trong học tập của HS ở các trường THCS Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Một số khái niệm 1. Hoạt động học tập của học sinh trung học cơ sở Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó, chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của 11 mình bằng cách thu nhận, xử lí và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình…” (Nguyễn Cảnh Toàn, 2002). Theo tác giả Trần Thị Hương: “Hoạt động học không chỉ được hiểu một cách đơn thuần là sự tiếp nhận một chiều những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo do người dạy truyền đạt mà đó hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của người học nhằm lĩnh hội những tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo mới và phương pháp hành động dưới sự tổ chức của người dạy” (Trần Thị Hương, 2012).
Hoạt động học là một hoạt động nhận thức độc đáo của người học, thông qua đó người học chủ yếu thay đổi chính bản thân mình và ngày càng có năng lực hơn trong hoạt động tích cực nhận thức và cải biến hiện thực khách quan (Trần Văn Tuấn, 2009). Trong hoạt động học tập, HS không chỉ có năng lực nhận thức thông thường mà cần phải tiến hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cở sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo phát triển mức độ cao.