CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Ở bất kỳ thời đại nào, quản lý luôn giữ vị trí vô cùng quan trọng đối với việc vận hành và phát triển xã hội. Quản lý có vai trò quyết định sự thành công, bởi chỉ có sự tác động có tổ chức và có mục đích của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý mới có thể sử dụng hiệu quả các tiềm năng, cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện môi trường luôn biến động và thách thức. Quản lý giáo dục thuộc lĩnh vực văn hóa - xã hội, trong đó quản lý chuyên môn là một lĩnh vực quan trọng và phức tạp nhất.
Để công tác quản lý nhà trường thuận lợi và thành công, việc quản lý hoạt động dạy học là then chốt, đòi hỏi người Hiệu trưởng cần nghiên cứu thực tiễn quản lý nhà trường để tìm ra những biện pháp quản lý hữu hiệu. Nghiên cứu trong nước Các nhà nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam đã tập trung nghiên cứu về quản lý nhà trường, như Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Ngọc Quang, và các nhà nghiên cứu khác [52]. Họ đã nêu lên nguyên tắc chung của công tác quản lý chuyên môn và quản lý hoạt động dạy học của giáo viên như sau: Bảo đảm lao động theo định mức nhà nước quy định đối với mỗi giáo viên. Xác định trách nhiệm của mỗi giáo viên bộ môn theo điều lệ nhà trường, chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng và Nhà nước về chất lượng giảng dạy và giáo dục đối với mỗi học sinh lớp mình phụ trách.
Khẳng định nhiệm vụ, trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm trước Nhà nước và Hiệu trưởng về việc thực hiện nhiệm vụ được ghi trong điều lệ nhà trường. 7 Nguyễn Văn Lê cho rằng, để nâng cao chất lượng dạy và học, cần có các biện pháp phòng ngừa và khắc phục hiện tượng học sinh yếu kém. Cần chú trọng các biện pháp giáo dục tư tưởng chính trị cho cán bộ giáo viên và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ nhằm xây dựng tiềm lực giảng dạy cho mỗi giáo viên [47]. Nghiên cứu quốc tế Các nhà nghiên cứu giáo dục Liên Xô (cũ) rất quan tâm đến công tác quản lý khoa học có hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo dục.
Muốn nâng cao chất lượng giáo dục phải có đội ngũ giáo viên có trình độ sư phạm và năng lực chuyên môn. Đảm bảo chất lượng là cấp độ quản lý tiến bộ hơn kiểm soát chất lượng, được thực hiện trước và trong quá trình sản xuất/đào tạo nhằm phòng ngừa sản phẩm chất lượng thấp. Mô hình quản lý đảm bảo chất lượng nhấn mạnh sự tham gia của tất cả các bộ phận chức năng để đạt và duy trì các tiêu chuẩn chất lượng. Theo các nghiên cứu: "Quản lí chất lượng trong nhà trường", West–Burnham (1992) [63]; "Quản lí chất lượng lấy nhà trường làm cơ sở", Dorothy Myers và Robert Stonihill (1993), [56]; "Quản lí chất lượng trong giáo dục", Taylor.
Các công trình nghiên cứu này họ tập trung vào các quan điểm và phương pháp vận dụng các nội dung quản lí chất lượng trong sản xuất vào đổi mới quản lí chất lượng trong lĩnh vực giáo dục. Theo Abd Jamil Abdullah (2000), đảm bảo chất lượng đạt được trên thực tế so với lý thuyết phụ thuộc nguồn lực và sử dụng các nguồn lực hiện có của tổ chức đó [1]. Theo Paul Watson (2002), mô hình quản lí chất lượng Châu Âu (EFQM), cho rằng một khung tự đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu trong lĩnh vực quản lí chất lượng để cải thiện hoạt động của một tổ chức, nhằm cung cấp một dịch vụ hoặc sản phẩm xuất sắc cho khách hàng hoặc các bên liên quan. Mỗi tổ chức có thể sử dụng nó theo cách riêng của mình để quản lí, cải tiến và phát triển [58].
Tổ chức các Bộ trưởng giáo dục Đông Nam Á (2003), trong công trình “Khung đảm bảo chất lượng trong khu vực” đã chỉ ra: Hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo bao gồm: cơ cấu tổ chức, các thủ tục, các quá trình và các nguồn lực cần thiết của các cơ sở đào tạo [59]. Theo Petros Kefalas và các cộng sự (2003), một hệ thống đảm bảo chất lượng (QAS) bao gồm các tiêu chuẩn chất lượng: (1) chương trình học tập hiệu quả; (2) đội ngũ giáo viên; (3) khả năng sử dụng cơ sở hạ tầng sẵn có; (4) phản hồi tích cực từ học viên; (5) sự hỗ trợ từ các bên liên quan và thị trường lao động [59]. Trong “Sổ tay hướng dẫn và thực hiện” (2004) của Tổ chức đảm bảo chất lượng mạng lưới chất lượng các nước Đông nam Á đã nêu rõ: Mô hình đảm bảo chất lượng ở các nước Đông Nam Á rất đa dạng. Nhưng điểm chung là hầu hết các cơ quan đảm bảo chất lượng quốc gia đều do Nhà nước thành lập, được Nhà nước cấp kinh phí và chủ yếu thực hiện nhiệm vụ kiểm định chất lượng [55].
Anna Maria Tammaro (2005), trong báo cáo về các mô hình đảm bảo 9 chất lượng trong LIS cho biết: Ba mô hình đảm bảo chất lượng xuất hiện từ các hướng dẫn và các tiêu chuẩn khác nhau của LIS đó là: (1) Định hướng chương trình; (2) Định hướng quá trình giáo dục; (3) Định hướng kết quả học tập [55]. Ứng dụng vào nghiên cứu tại Việt Nam Các nghiên cứu quốc tế đã đưa ra nhiều luận điểm khoa học có thể kế thừa trong nghiên cứu đảm bảo chất lượng ở trường tiểu học, như việc xác lập chuẩn chất lượng, xây dựng quy trình thực hiện chất lượng, và xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng. Những nguyên tắc này sẽ được áp dụng và điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn giáo dục tại Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học tại các trường tiểu học và trung học cơ sở, cụ thể là trường Tiểu học và Trung học cơ sở Minh Hưng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều thống nhất rằng quản lý chất lượng bao gồm hệ thống các tiêu chí, tiêu chuẩn và quy trình thực hiện nhằm đảm bảo sản phẩm không có lỗi, thỏa mãn nhu cầu thị trường và đạt hiệu quả kinh tế cao.
Quản lý chất lượng phải được tiến hành ở tất cả các khâu và là trách nhiệm của tất cả các cấp từ lãnh đạo đến mọi thành viên trong tổ chức. Các khái niệm cơ bản 1. Chất lượng giáo dục Giáo dục là một ngành nghề đặc biệt bởi sản phẩm của nó là con người. Chất lượng trong giáo dục là một khái niệm trừu tượng và khó định nghĩa, thậm chí khó nắm bắt.
Giáo dục không phải là loại sản phẩm đã làm xong, ngay cả khi bạn đã tốt nghiệm những người đó vẫn trong quá trình trưởng thành. Giáo dục chỉ giúp con người bộc lộ những thiên hướng của cá nhân để nuôi dưỡng nó, phát triển nó, một quá trình đi theo con người suốt cả cuộc đời. Cuộc đời con người là một hành trình để học, để phát triển thành người. 10 Giáo dục luôn hỗ trợ cho quá trình đó, chính vì vậy chất lượng giáo dục luôn là vấn đề của mọi thời đại [27].
Giáo dục là một hoạt động hướng đích rõ rệt. Chất lượng giáo dục đều hướng tới các mục đích sau: - Sự xuất sắc trong giáo dục - Giá trị giá tăng trong giáo dục - Trung khớp của kết quả đầu ra của giáo dục với các mục tiêu, yêu cầu đã hoạch định - Không có sai sót trong quá trình giáo dục - Đáp ứng một quá trình kỳ vọng của khách hàng trong giáo dục. Giáo dục là một loại hướng đích nên chất lượng giáo dục phụ thuộc vào mục tiêu giáo dục. Ngoài những mục tiêu và kiến thức, kĩ năng cơ bản cần có thì phải bao quát cả những mục tiêu cá nhân trong bối cảnh rộng lớn của xã hội bởi giáo dục có liên hệ đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Đảm bảo chất lượng giáo dục Đảm bảo chất lượng giáo dục là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống, được tiến hành trong hệ thống quản lý đã được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng rằng thực thể (đối tượng) sẽ thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng [25]. Đảm bảo chất lượng được thực hiện khi xác lập những tiêu chuẩn, các phương pháp phù hợp và những yêu cầu về chất lượng kèm theo quá trình thanh tra, đánh giá việc đáp ứng những tiêu chuẩn đó. Đối với ngành Giáo dục thì đảm bảo chất lượng chính là thực hiện quy trình sao cho phù hợp với hệ thống các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số. Đảm bảo chất lượng là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện.
Mối quan tâm của nó là phòng chống những sai phạm xảy ra ngay từ bước đầu tiên. Chất lượng của sản phẩm được thiết kế ngay trong quá trình sản xuất ra nó từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt 11 không có khâu nào xảy ra sai phạm. Để làm được điều này thì cần trao quyền quản lý cho tất cả các khâu, các bộ phận, Mỗi thành viên trong bộ phận của mình phải đảm bảo không để xảy ra sai sót, thực hiện quy trình một cách nghiêm ngặt. Đảm bảo chất lượng quan tâm quy trình, tiêu chuẩn, quan tâm đến việc kiểm tra thực hiện quy trình, tiêu chuẩn, tiêu chí luôn luôn phân tích các nguyên nhân, hệ quả để có biện pháp khắc phục và ngăn ngừa sai phạm, không xảy ra sai sót hoặc không để trùng lặp lỗi sai.
Hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục Hoạt động ĐBCL giáo dục: Xây dựng chương trình đào tạo. Lấy ý kiến các BLQ về hoạt động đào tạo Bổ sung tư liệu học tập (mua, biên soạn giáo trình/bài giảng) Đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp đánh giá phù hợp với hệ thống tín chỉ Người học tham gia phản hồi, đóng góp ý kiến về hoạt động đào tạo của nhà trường (trực tuyến) Sắp xếp tổ chức kiểm tra, thi đúng quy định và đảm bảo nghiêm túc, an toàn Mời các nhà khoa học có uy tín và kinh nghiệm chuyên môn tham gia các Hội đồng đánh giá LVTN thạc sĩ, Luận án tiến sĩ (cấp cơ sở và cấp trường) Đánh giá chương trình đào tạo (Tự đánh giá AUN (nội bộ), Kiểm định AUN quốc tế, .) Bên cạnh đó, “Hòm thư” nhận ý kiến đóng góp của người học, người dạy, viên chức nghiên cứu cho hoạt động này cũng đã được triển khai cụ thể và rõ ràng trong toàn Trường.