CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRAO ĐỔI SINH VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐƯỢC XẾP HẠNG TRONG NHÓM 500 TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG ĐẦU THẾ GIỚI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu sự cần thiết của quốc tế hóa giáo dục Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, thì hợp tác, trao đổi quốc tế giữa các trường đại học là xu thế tất yếu, đã có nhiều nghiên cứu tập trung làm rõ sự cần thiết của quốc tế hóa giáo dục đối với giáo dục nói chung và các trường đại học nói riêng.
Có thể liệt kê một số nghiên cứu sau: Altbach, P. J (2007) đã chỉ ra rằng toàn cầu hóa và quốc tế hóa có liên quan nhưng không giống nhau. Toàn cầu hóa là bối cảnh của các xu hướng kinh tế và học thuật là một phần thực tế của thế kỷ 21. Quốc tế hóa bao gồm các chính sách và thực tiễn được thực hiện bởi các hệ thống và tổ chức học thuật - và thậm chí cả các cá nhân - để đối phó với môi trường học thuật toàn cầu.
Động lực của quốc tế hóa bao gồm lợi thế thương mại, tiếp thu kiến thức và ngôn ngữ, nâng cao chương trình giảng dạy có nội dung quốc tế và nhiều nội dung khác. Các sáng kiến cụ thể như phân hiệu trường, thỏa thuận hợp tác xuyên quốc gia, các chương trình dành cho sinh viên quốc tế, thiết lập các chương trình và bằng cấp trung cấp tiếng Anh, cùng nhiều sáng kiến khác đã được áp dụng như một phần của quá trình quốc tế hóa. Những nỗ lực giám sát các sáng kiến quốc tế và đảm bảo chất lượng là điều không thể thiếu trong môi trường giáo dục đại học quốc tế. Mai Thi Kim Khanh và Châu Huy Ngọc (2021) đã chỉ ra rằng trong những năm gần đây, quốc tế hóa giáo dục đại học đã trở thành chủ trương của Đảng và chính sách của nhà nước, trong đó thu hút sinh viên quốc tế được xem là một trong những yếu tố quan trọng nâng cao mức độ quốc tế hóa của cơ sở giáo dục đại học, góp phần xây dựng danh tiếng của nhà trường và có ảnh 10 hưởng đến thứ hạng của cơ sở giáo dục đại học trên các bảng xếp hạng đại học quốc tế.
Việc tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia đã có những thành tựu quốc tế hóa giáo dục để từ đó nhìn lại những điều kiện sẵn có nhằm phát huy các cơ hội của thế mạnh nội tại và cải tiến những mặt hạn chế là cần thiết. Do vậy, trong bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu các kinh nghiệm của các quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á, trên cơ sở những nghiên cứu đã thực hiện ở Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc đã cho thấy ngôn ngữ và văn hóa đặc trưng là những yếu tố quan trọng thu hút sinh viên quốc tế đến châu Á. Bên cạnh đó, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) cũng được giới thiệu như một cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam thành công trong việc thu hút sinh viên quốc tế với việc vận dụng hiệu quả những thế mạnh của chương trình giảng dạy tiếng Việt, đào tạo Việt Nam học, và các hoạt động giao lưu văn hóa. G (2013) đã phân tích các yếu tố quyết định sự lựa chọn điểm đến khả thi của sinh viên trao đổi quốc tế trong thời gian học tập ở nước ngoài.
Nghiên cứu đã đề cập đến các thước đo hiện có về chất lượng giáo dục trong giáo dục đại học quốc tế: các chứng chỉ kiểm định chuyên ngành dành cho các trường kinh doanh như Hiệp hội phát triển các trường đại học và cao đẳng trong lĩnh vực kinh doanh (AACSB) và Hệ thống cải tiến chất lượng Châu Âu (EQUIS) và Bảng xếp hạng giáo dục đại học của Tạp chí Times (THESR). Tác giả đã sử dụng bộ dữ liệu của Trường Đại học Maastricht và Trường Kinh doanh và Kinh tế (SBE) để nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố liên quan đến cả chất lượng giáo dục (các chứng chỉ kiểm định chuyên ngành và xếp hạng quốc tế) và đặc điểm của vị trí trường đại học (ví dụ: nằm trên bờ biển, gần xích đạo) ảnh hưởng đến sự lựa chọn của sinh viên, ngay cả khi kiểm soát các trường đại học cố định. Tuy nhiên, tác 11 động ước tính là không giống nhau đối với tất cả học sinh, tích cực đối với học sinh có thành tích học tập cao và tiêu cực đối với học sinh có thành tích học tập thấp.
Hiệu quả trung bình của việc công nhận và xếp hạng là rất lớn ở đầu phân bố sinh viên, ngay cả khi kiểm soát các tác động cố định: việc được công nhận làm tăng khả năng được chọn của một trường đại học lên 24% và cải thiện THESR thêm một vị trí lên 0,8 %. Tuy nhiên, tác động đối với học sinh trung bình là rất nhỏ (lần lượt là 1% và 0,1%) và tác động ước tính sẽ trở nên tiêu cực đối với những học sinh có thành tích học tập thấp nhất (-18% và -0,6%). Kết quả nghiên cứu này có hàm ý chính sách tốt cho các nhà quản lý trường đại học: bằng cách cải thiện vị trí của họ trong bảng xếp hạng quốc tế, trường của họ trở nên hấp dẫn hơn đối với các sinh viên quốc tế hàng đầu. Hiệu quả của các chứng nhận trong việc thu hút sinh viên hàng đầu cũng có vẻ lớn, nhưng không thể đưa ra kết luận ở cùng mức độ tin cậy.
Những tác động ít rõ ràng hơn đối với các nhà hoạch định chính sách. Sự công nhận chuyên môn và xếp hạng quốc tế có thể được coi là một phương tiện để giảm bớt sự không chắc chắn của sinh viên về chất lượng của các tổ chức nước ngoài và do đó tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên di chuyển. Ngược lại, dịch chuyển sinh viên hay còn gọi cách khác là hoạt động trao đổi sinh viên là một công cụ hữu ích cho một số mục tiêu chính sách được ưu tiên cao ở khu vực Châu Âu, chẳng hạn như dịch chuyển lao động và hội nhập quốc tế, đa dạng văn hóa. Tuy nhiên, tín hiệu do các bảng xếp hạng và công nhận quốc tế gửi đến dường như không phù hợp với tất cả học sinh.
Để kích thích khả năng di chuyển, trao đổi quốc tế của những sinh viên có thành tích học tập dưới mức trung bình, có thể cần phải tìm kiếm những công cụ hiệu quả hơn. Trần Mai Đông và cộng sự (2021) đã nghiên cứu và kết luận rằng trong những năm gần đây, có rất nhiều xu hướng trong lĩnh vực giáo dục đại học được các nhà quản lý và nghiên cứu quan tâm – một trong số đó là quốc tế hóa. Điều này đòi hỏi phải có một sự hiểu biết sâu sắc về thuật ngữ này, cũng như 12 những cách thức đa dạng và phức tạp của quốc tế hóa giáo dục đại học trong quá trình toàn cầu hóa. Nhóm tác giả đa đưa ra một cách nhìn tổng thể về quốc tế hóa trong giáo dục đại học và lợi ích của xu hướng này đối với các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, nghiên cứu còn giới thiệu một vài bài học kinh nghiệm quốc tế hóa trong giáo dục đại học của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Qua đó, nghiên cứu này hy vọng cung cấp một số hàm ý cho các nhà quản trị nhằm mang lại cho các trường đại học những thay đổi tốt hơn để phát triển và hội nhập. Nghiên cứu vai trò quốc tế hóa giáo dục và trao đổi sinh viên quốc tế: Hoạt động trao đổi sinh viên là một phần quan trọng của quá trình quốc tế hóa giáo dục và mở ra cơ hội cho sinh viên từ các quốc gia khác nhau được trải nghiệm văn hóa, học tập, và phát triển kỹ năng trong môi trường học tập quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa của thế kỷ 21 hiện nay, nhiều cơ quan, tổ chức trên thế giới đang chạy đua tìm kiếm nhân sự có kỹ năng giúp họ có lợi thế cạnh tranh hơn trên trường quốc tế.
Những nhân sự này được yêu cầu làm việc trong môi trường đa văn hóa và có năng lực giao tiếp qua ngôn ngữ. Điều này tạo nên nhiều thách thức cho các trường đại học. Các trường đại học bắt buộc phải trang bị cho sinh viên của mình những kỹ năng cần thiết để đáp ứng môi trường lao động quốc tế, giúp người học có khả năng xin việc làm dễ hơn. Ngoài ra, các trường đại học cũng cần phải trang bị cho người học của họ tâm lý sẵn sàng cho những công việc mang yếu tố toàn cầu và trở thành công dân toàn cầu.
Một trong những phương pháp hiệu quả nhất để phát triển trải nghiệm quốc tế dành cho sinh viên là tham gia một chương trình trao đổi sinh viên hoặc tìm kiếm cơ hội học tập ở nước ngoài trong thời gian từ một hoặc hai học kỳ. Các chương trình như vậy giúp sinh viên trở thành những cá nhân đa ngôn ngữ hay tiến xa hơn là một công dân toàn cầu với năng lực giao tiếp liên văn hóa và phát triển mối quan hệ lâu dài ở các quốc gia khác góp phần vào phát triển xã hội và hòa bình thế giới. Chính vì vậy, nghiên cứu về quốc 13 tế hóa giáo dục và trao đổi sinh viên quốc tế.là chủ đề khá phổ biến trong lĩnh vực nghiên cứu về giáo dục học cả trong nước và quốc tế, có thể liệt kê và kể đến một số công trình tiêu biểu như sau: Valtonen, H (2017) đã nghiên cứu lợi ích lâu dài của các dịch vụ của công ty Trao đổi Châu Á - Asia Exchange (AE) và cho rằng lợi ích này là một cách tạo ra sự lâu dài cho hoạt động của công ty và nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng trong một khoảng thời gian dài hơn bình thường. Mục tiêu của nghiên cứu này là cung cấp cho Asia Exchange một tiêu chuẩn cho nghiên cứu dài hạn về mức độ hài lòng của khách hàng, cũng như cung cấp những phản hồi có ý nghĩa về lợi ích mà những người trả lời báo cáo khảo sát có được.
Mặc dù AE đã thu thập phản hồi về các học kỳ trao đổi của họ sau mỗi học kỳ nhưng đây là nghiên cứu đầu tiên tập trung vào lợi ích lâu dài của các học kỳ trao đổi.