CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE QUAN LÝ TONG HỢP TÀI NGUYEN NƯỚC VA VAN DE UNG DUNG MO HÌNH TOÁN TRON QUAN LY TONG HỢP TAI NGUYEN NƯỚC 1. TONG QUAN VE VAN DE QUAN LÝ TONG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC, 1. Tổng quan về quân lý tổng hợp tài nguyên nước trên thé giới 1. Những đặc diém cơ ban trong quản lý tổng hợp tài nguyên nước.
(1) Quin ý tổng hợp tải nguyên nước là một vin để có lịch sử phát triển từ lâu đời song luôn gắn chat với sự phát triển tương ứng của nén khoa học - công nghệ rong mỗi thời kỳ lịch sử. Vấn để quản lý tai nguyên nước đã được con người quan tâm tir những thời kỳ xa xưa. Sự có mặt của những công tinh thuỷ lợi cỗ đại trên các đồng sông như sông Nile, T-arơ, Ở-phrat. đã nói lên sự quan tâm của loài Người tới vin để quan lý tai nguyên nước tử thời xa xưa.
2) Quản lý tổng hop tài nguyên nước đang là một vin để được nhiễu quốc gia ‘quan tâm đo tính chit cắp bách vi tổng hợp của bai toán nhằm phát triển kinh t ~ xã hội của mỗi vùng lãnh thé, của mỗi quốc gia và của cả cộng đồng quốc tế, Cho cđến nay, loài Người đã nhận thức được rằng: Nước là một tải nguyên hạn chế, Nếu chúng ta không quản lý một cách có hiệu quả thi nguy cơ cạn kiệt nguồn nước là khó tránh khỏi (3) Mặc dit có một lịch sử phát triển từ lâu đời song khoa học Quản lý tổng hợp tai nguyên nước chưa được tỉnh bay có hệ thống. Tuỷ theo quan điểm của ngời sử dụng và người ra quyết định mà có những cách thé hiện khác nhau cũng như dé cập. tối những khía cạnh khác nhau của bài toán. Tuy nhiên, sau Hội nghị thượng định của Liên hợp quốc về Moi trường và Phát triển (UNCED, Brazil, 1992) thì thuật ngữ Quan lý tổng hop tải nguyên nước mới được nhắn mạnh và trở thành một khoa học được đề cập tới một cách có bệ thông, C6 nhiều khái niệm về quảnlý tổng hợp tài nguyên và môi trường, tuy nhí Khái niệm: được thửa nhận rộng rã và sẽ sử dung trong đồ án này là khái niệm được dưa ra trong Hội nghị quốc tế v8 Thuỷ văn được 8 chức phối hợp giữa UNESCO.
WMO và ICSU (tháng 3/1993, tại Paris), đó là: Quản lý tổng hợp tài nguyên là tập hop những hoạt động nhằm sit dung và kim soát những input tải nguyễn thiên nhiên (đấu, nước, sinh vật) để thu được những output đảm bảo cho hệ thẳng các Ati hiện tự nhiên mang lại lợi ich cần thiết cho com người. Việc quản lý tổng hợp có thé diễn ra trong những phạm vi không gian khác nhau: theo đơn vị hành chinh (quốc gia, tỉnh, huyện), theo tính chất địa hình (miễn núi, đồng bing). taf theo đối tượng cần khai thắc và quản lý (lập ké hoạch, quy hoạch). Tuy nhiên, cho đến nay - đặc biệt là kể từ sau Hội nghị UNCED - đơn vị quan lý thường được sử dụng ở nhiều quốc gia là Lưu vực sông.
Bởi vì mọi hoạt động của con người diễn ra trong lưu vực sông, cổ tác động rực tiẾ tới các dạng tài nguyên và mỗi trường của lưu vực (Ít, nước, sinh vật, khoáng sản.) đều có phản ứng tổng hợp qua sự biến đổi về số lượng và chit lượng của tai nguyên nước ở mặt cất khống chế của lưu vực.3, Những bién déi về nhận thức trong quản lý tài nguyên nước Trong quá trình phát triển của minh, để quản lý và phát triển tài nguyên. nước, con người đã không ngừng thay đổi nhận thức của minh đối với ải nguyên nước. Có thé tam phân chia sự biến đổi trong nhận thức này theo 3 thời kỳ sư: (1) Thời kỳcoi nước là dang tài nguyên v6 han Con người - từ những thời ky xa xưa - đã coi nước như một dang tải nguyễn vô hạn, một thứ "của trời cho”, Vấn để ding nước chủ yếu là việc xây dựng các hệ thống thuỷ nông hoặc cong cắp nước cho các dé thi, Con người sử đựng nước song không quan tâm nhiều tới khối lượng và chất lượng nước bởi vì vào thời kỳ đó thì con người có thé coi nước là tài nguyên vô tận và thực thì khả năng tự hồi phục của tài nguyên nước khi đó còn khá mạnh so với nhu cầu sử dụng (2) Thời kỳ hình thành quan điểm tài nguyên nước là hữu hạn Khi con người khai thác tài nguyên nước ở quy mô lớn, với công nghệ mới và với trình độ phát triển mạnh của công nghiệp, lượng chất thai ngày một gia ng thi nước có biểu hiện suy thoái và vấn đề bảo vệ tii nguyên nước bắt đầu được đặt ra Năm 1977, Hội nghị Nước của Liên hợp quốc (LIQ) được tổ chức ở Mar del Plata (Argentina) đã nhắn mạnh vấn dé quy hoạch, nước sạch và vệ sinh. Chính vi vây mã LHQ đã lấy những năm 80 của thể kỷ trước là Thập kỳ Quốc tổ Nước sạch và Vệ sinh nhằm giải quyết vấn đề nước sinh hoạt cho con người.
Tuy nhiên, do chưa gắn kết giữa vin đề nước và mỗi trường nên những mục tiêu để ra cho Thập kỹ này không đạt được như mong muốn. Năm 1987, vẫn đề môi trường đã trở nên cấp bách và LHQ đã thông qua báo cáo Tương lai chung của chúng ta (Our common future) do Uỷ ban Brundtland soạn thảo. Thuật ngữ Phát tiển Bin ving (Sustainable Development) đã hình thành từ báo cáo này, Tuy nhiên, vai trò của tài nguyên nước trong báo cio vẫn chưa được dé cập tương xứng với vỉ trí của nó, Năm 1991, tại Hội nghị Tư vấn không chính thức về Nước họp ti Copenhagen (Dan Mạch), 4 nguyê Tý cơ bản đã được hình thành và đưa ra thảo luận trong Hội nghị này: (1) Nước là dạng tải nguyên hữu hạn, để bị tổn thương và rit cin thiết cho cuộc sống của con người, (2) Nước cần được quản lý ở tắt cả các sắp, (3) Phụ nữ giữ một vai tr trung tâm trong việc quản lý và đảm bảo an toàn trong sử dụng nước và (4) Nước phải được coi là một dạng hàng hoá. Những nguyên lý này đã được khẳng định lại và lâm rõ hơn lại Hội nghỉ q tước vã Mỗi trường ở Dublin sland, 1/1992), Thing 6/1992, Hội nghị thượng định của LHQ về Môi trường và Phát triển (United Nations Conference on Environment and Development/UNCED) họp tai Rio de laneiro (Brasil) đã thông qua Chương trình 21 (Agenda 21) với Chương 18 có tiêu dé "Bảo vệ chất lượng và cung cấp nude ngọc ứng dụng các cách iếp cận về phát tiễn, quản lý và sử đụng nước".
Với nội dụng này, các nguyên tắc Dublin được tái khẳng định và được Hội nghị thượng định Rio de Janeiro thông qua (3) Thời kộ thực hiện các nguyên tắc Dubin “Trong thập kỷ cuỗi củng của thé ky XX, thé giới đã chứng kién sự suy thoái về tài nguyên nước trước tinh hình nhu cầu ding nước đã vượt quả khả ning tải tạo của tải nguyên nước. Với các nguyên tắc Dublin, nguyên lý Phat triển bền vững tải nguyên nước và phương pháp Quản lý tổng hợp tài nguyên nước đã được nhiều quốc gia đề cập tới trong các chỉnh sách phát triển kinh tế có liên quan đến tài nguyên nước của quốc gia mình. Nhận thức của thế giới trong các vấn đẻ này cũng. timg bước được cũng cổ và phát triển.
Năm 1993, Ngân hàng Thể giới tuyên bố chính sách chung về quản lý tài nguyên nước, xem xét các dự án liên quan đến nước trên quy mô rộng. Năm 1994, Uy ban Phát triển Bên vững của LHQ kêu gọi các quốc gia tổ chức đánh nguyên nước trong phạm vi quốc gia và của toàn cầu. Vấn để Nước bắt đầu được 4a vào chương trình nghị sự thường kỳ của Uỷ ban này, Cũng trong năm 1994, TS chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) đưa ra khái niệm quản lý kết hợp với phát triển vả từ đồ thuật ngữ Quản lý nước bao hàm cả hai nội dung này, Thing 6 1996, ai sự kiện lớn đã xây ra: Ngân hàng Phát triển Châu A để ra chính sách nước cho vùng Châu A - Thái Bình Dương vi Hội đồng Nước toàn cầu (World Water Council) đã hình thành, hợp tác nghiên cứu triển khai các vẫn để về nước liên quan tới các nguyên tắc Dublin, Hai thing sau đó (8/1996), Mạng lưới cộng tác vì nước. toàn cầu (Global Water Partnership) ra đồi nhằm tổ chúc việc triển khai các nguyên tic Dublin vào thực tiễn.
Năm 1997, Diễn đàn Nước thé iới in thứ I nhóm họp ti Marrakech (Maroc) kêu gọi việc xây dựng Tam nhìn về Nước cho thé kỷ XI. 1998, Hội nghị Paris về Nước và phit iển bền vũng đã nhắn mạnh việc phối hop viện trợ và đầu tư trong lĩnh vực Nước. “Thắng 3 năm 2000, Diễn din Nước th giới lần thứ 2 họp tai The Hague (Hà Lan) đã thông qua Tim nhìn và Khung hành động về nước, cuộc sống và môi trường cho thé ky XXI với mục tiêu "Một thể giới an ninh vỀ nước trong thể kỷ XXI" đã được các quốc gia quan tâm trong sự phát triển kinh tế xã hội của mình. “Trong những năm đầu của thé kỷ XXI, sự quan tâm tới vẫn dé quản lý tổng.
hợp tả nguyên nước bắt đầu được chủ ÿ cho từng lưu vực sông cụ thé, Một thí dụ điển hình là Chiến lược hỗ trợ phát triển tài nguyên nước cho lưu vực sông Mê Công được Ngân hàng Thể giới tiễn khai xây đựng từ thắng 11/2004 và dang được xúc tiến mạnh trong những tháng đầu năm 2005 tại 4 quốc gia trong Uỷ hội ng Mê Công (Là „ Campuchia, Thi Lan và Việt Nam). Trong Chiến lược này, việc xây dựng những kịch bản phát triển để mô phòng các trạng thái sử dụng tài nguyên. nước có thé xay ra trong lưu vực đã được quan tâm rit nhiều 1. Tổng quan về quan lý tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam Co thể nêu lên một số điểm cơ bản cẩn lưu ý khi đặt vin để quán ly tổng hợp tải nguyên nước ở Việt Nam như sau: 1.
Tài nguyên nước Việt Nam phân phối không déu theo không gian và thời gian. Tuy theo từng vũng, có nơi từ đến 9 thắng trong năm a thuộc vé mia cạn - mùa i nước (chỉ chiếm 20-3 tổng lượng nước năm) trong đó 3 thắng cạn nhất chỉ chiểm 5-10 tổng lượng nước năm và nhu tước phần lần (70%) li tập trung trong.