Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC CHI NHÁNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tín dụng tại các chi nhánh của ngân hàng thương mại 1. Hoạt động tín dụng tại các chi nhánh của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ latinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm), trong thực tế thuật ngữ này được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: Xét trên giác độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay.
Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng [12]. Như vậy có nhiều cách hiểu về “tín dụng”. Căn cứ vào hai tiêu thức là chủ thể và đối tượng tín dụng thì quan hệ tín dụng gồm có các loại hình: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng và tín dụng quốc tế.
Trong mỗi loại hình này, tín dụng lại được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau. Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 và được sửa đổi, bổ sung vào năm 2011 đưa ra định nghĩa như sau “Cấp tín dụng là việc các tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác” [13]. Tín dụng ngân hàng là một quan hệ kinh tế giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó ngân hàng chuyển giao tiền hay tài sản cho khách hàng trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 một thời gian nhất định với những thỏa thuận hoàn trả cả gốc và lãi giữa khách hàng và ngân hàng. Đặc điểm cơ bản của tín dụng ngân hàng thương mại Hoạt động tín dụng NHTM có các đặc điểm cơ bản sau [11]: Thứ nhất, tín dụng ngân hàng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn.
Thứ hai, tín dụng phải dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi, vì vậy ngân hàng khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản lý tín dụng, là lý do mà ngân hàng phải thực hiện phân tích kỹ lưỡng trước khi quyết định cho vay. Thứ ba, tín dụng không tách rời hoạt động của thị trường tài chính, chịu sự chi phối không chỉ của chính sách tài chính – tiền tệ mà còn của hàng loạt chính sách khác: chính sách đầu tư, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách thuế… Thứ tư, tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro. Thứ năm, trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện.
Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước. thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Vai trò của tín dụng Ngân hàng thương mại a. Vai trò đối với Ngân hàng Hoạt động chủ yếu của NHTM là việc thu hút vốn để mở rộng tín dụng và đầu tư nhằm thu lợi nhuận.
Việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Chiến lược kinh doanh quan trọng của ngân hàng là chiến lược tín dụng. Hoạt động cho tín dụng là hoạt động có rủi ro cao nhưng hứa hẹn đem lại lợi nhuận cao nên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 các ngân hàng luôn quan tâm đến việc mở rộng và nâng cao chất lượng, quản lý hoạt động tín dụng.Vai trò đối với doanh nghiệp Để tồn tại và phát triển trong thị trường đầy biến động như hiện nay, các doanh nghiệp luôn phải không ngừng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư thiết bị để nâng cao năng lực sản xuất. Muốn vậy, doanh nghiệp cần phải huy động một lượng vốn khá lớn.
Lượng vốn đó có thể được huy động từ: cán bộ trong doanh nghiệp, từ thị trường chứng khoán và một phương thức huy động vốn quan trọng mà các doanh nghiệp hay sử dụng là vay vốn của các NHTM. Với phương thức này, doanh nghiệp sẽ huy động được vốn với kỳ hạn đa dạng (ngắn/trung/dài hạn tuỳ thuộc vào phương án kinh doanh của doanh nghiệp), thủ tục đơn giản hơn (so với huy động trên thị trường chứng khoán) và sự kiểm soát trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không gia tăng nhiều (so với huy động từ cán bộ doanh nghiệp hay từ thị trường chứng khoán). Vai trò đối với nền kinh tế Thứ nhất, hoạt động tín dụng góp phần ổn định nền kinh tế (quá trình sản xuất kinh doanh của các cá thể, cá nhân thường xuyên hơn), tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế: hoạt động sản xuất kinh doanh không phải lúc nào cũng suôn sẻ, các tổ chức, cá nhân, luôn phải đương đầu với những khó khăn để tồn tại và phát triển. Một trong những khó khăn mà đa số họ gặp phải trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay là sự thiếu hụt vốn trong kinh doanh.
Bên cạnh việc vay mượn ở người thân, bạn bè. thì việc các tổ chức, cá nhân đi vay ở các ngân hàng để đáp ứng nhu cầu về vốn là rất thường xuyên. Thứ hai, hoạt động tín dụng có vai trò tích tụ và tập trung vốn (góp phần làm giảm số tiền nhàn rỗi, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông và khắc phục lạm phát tiền tệ). Mỗi người, với một khoản tiền nhỏ thì rất khó có thể đầu tư, kinh doanh hay mua những vật có giá trị lớn.
Nhưng nếu nhiều người góp lại thì nó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 sẽ trở thành một khoản tiền lớn. Tuy nhiên, việc tập trung các lượng vốn nhỏ này lại rất khó khăn đối với chỉ một người hay một nhóm người mà họ không được mọi người trong xã hội biết đến. Trong khi đó lại có rất nhiều người cần một lượng tiền lớn, nhiều công trình, dự án cần vốn lớn để đầu tư. Để kết nối những trường hợp trên lại, chúng ta phải nhờ đến các tổ chức tín dụng mà đặc biệt là các ngân hàng.
Cũng thông qua hoạt động cho vay của ngân hàng, số tiền nhàn rỗi trong dân cư sẽ giảm xuống vì họ có một nơi để đầu tư kiếm lời thay vì cất giữ ở nhà, do đó lượng tiền mặt trong lưu thông sẽ giảm, khắc phục lạm phát tiền tệ. Thứ ba, hoạt động tín dụng là công cụ điều tiết vĩ mô thông qua việc phân bổ lại các nguồn lực, qua đó góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xuất phát từ một nền nông nghiệp lạc hậu, Việt Nam là nước đang phát triển. Sự phát triển về kinh tế, kỹ thuật chậm.
Để hội nhập, cần phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Muốn vậy Nhà nước phải phân bổ các nguồn lực cho hợp lý giữa các ngành. Một trong những cách để phân bổ nguồn lực hợp lý là thông qua hoạt động tín dụng. Khi Nhà nước muốn mở rộng hay phát triển một ngành, lĩnh vực, Nhà nước sẽ có những khuyến khích trong chính sách tín dụng như có những ưu đãi về lãi suất, thời hạn, tài sản đảm bảo trong việc vay vốn.
để cá nhân, doanh nghiệp chú ý đến và thực hiện đầu tư. Thứ tư, hoạt động tín dụng thực hiện chức năng phản ánh, tổng hợp và kiểm soát các hoạt động kinh tế, góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng của ngân hàng, ta có thể biết được nền kinh tế đang cần vốn như thế nào. Như vậy, hoạt động tín dụng phản ảnh một phần về hoạt động kinh doanh của một đất nước.
Đồng thời với chức năng này còn đánh giá đồng tiền được sử dụng để đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh có hợp pháp, hợp lệ hay không, có hiệu quả hay không. Do LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 đó, hoạt động tín dụng có vai trò quan trọng trong việc tổng hợp, kiểm soát các hoạt động kinh tế, thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế. Thứ năm, hoạt động tín dụng tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài. Trong điều kiện ngày nay, phát triển kinh tế của một quốc gia gắn liền với kinh tế thế giới, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện gắn kết kinh tế các nước với nhau.
Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá, đồng thời nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế [9]. Các hình thức tín dụng của Ngân hàng thương mại * Căn cứ vào thời hạn tín dụng Tín dụng ngắn hạn: là tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống, tài trợ cho tài sản lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Ngân hàng có thể áp dụng cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp, cho vay theo món hoặc theo hạn mức, có hoặc không có tài sản đảm bảo, dưới hình thức chiết khấu, thấu chi hoặc luân chuyển. Tín dụng trung hạn: là tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm (theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam), tài trợ cho các tài sản cố định.
Tín dụng dài hạn: là tín dụng có thời hạn trên 5 năm, tài trợ cho công trình xây dựng như nhà, sân bay, cầu, đường, máy móc thiết bị có giá trị lớn, có thời gian sử dụng lâu. * Căn cứ theo xuất xứ tín dụng Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu vốn đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. Tín dụng gián tiếp: Là loại hình cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.