Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về quản lý thuế TNCN trong l nh vực ĐS 3 z Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý thuế TNCN trong l nh vực ĐS tại CCT quận Hà Đông Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN trong l nh vực ĐS tại CCT quận Hà Đông hiện nay 4 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRONG LĨNH VỰC BẤT ĐỘNG SẢN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Thuế là công cụ quan trọng của Nhà nước góp phần quản lý, điều tiết, ổn định kinh tế v mô, là nguồn thu chủ yếu của NSNN, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đảm bảo công b ng xã hội. Do vậy, đây là l nh vực mà các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam luôn quan tâm nghiên cứu cả về lý thuyết và thực tiễn triển khai, hoàn thiện chính sách thuế và quản lý thuế. Ở Việt Nam, trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến chủ đề thuế TNCN như một số nghiên cứu, đánh giá việc quản lý thuế TNCN hiện nay tại Việt Nam với các góc độ nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu khác nhau, có thể khái quát lại như sau: Đề tài “ hính sách Thu TNCN Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh t quốc t ” luận văn thạc sỹ kinh tế của Mai Thị Mai Hoa, năm 2004.
Luận văn đã làm rõ lý luận, thực trạng có tham khảo việc áp dụng thuế TNCN ở một số nước và từ đó đưa ra những vấn đề cần hoàn thiện và xây dựng hoàn thiện chính sách thuế TNCN ở Việt Nam. Đề tài “Hoàn thiện chính sách Thu thu nhập óp phần phát triển kinh t Việt Nam trong th i kỳ hội nhập WTO”, luận văn thạc sỹ kinh tế của Nguyễn Thị Liên, năm 2007. Luận văn đã hệ thống hóa được quá trình thu thuế, thực trạng và đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện chính sách thuế thu nhập. Đề tài “Hoàn thiện c n tác quản Thu TNCN của Tổng cục Thu ” luận văn thạc sỹ Quản lý kinh tế của Trần Thị Tuyết, năm 2014.
Luận văn này đã đi sâu phân tích một số vấn đề lý luận cơ bản về thuế TNCN, vai trò của Tổng cục thuế trong công tác quản lý thuế TNCN. Trên cơ sở đó, tiến hành phân tích 5 z thực trạng công tác quản lý thuế TNCN của Tổng cục Thuế. Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN của Tổng cục thuế. Đề tài “Giải pháp t n c n c n tác quản thu tron nh v c BĐS trên địa bàn huyện Phú Xuyên” luận văn thạc s kinh tế của tác giả Đỗ Minh Hiếu, năm 2014.
Luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về hoạt động quản lý thuế trong l nh vực ĐS, đi sâu phân tích thực trạng công tác quản lý thu thuế trong l nh vực ĐS trên địa bàn huyện Phú Xuyên, từ đó xác định những thành tựu và những nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý thu thuế trong l nh vực ĐS. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp để hoàn thiện hoạt động quản lý thu thuế trong l nh vực ĐS phù hợp với thực tiễn trên địa bàn huyện Phú Xuyên. Đề tài “Hoàn thiện c n tác quản thu T tron nh v c BĐS tại CCT huyện Phú Xuyên” luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh của Vũ Thị Thuần, năm 2016, đã hệ thống cơ sở lý luận chung về thuế TNCN và quản lý thuế TNCN trong l nh vực ĐS, tiến hành phân tích thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trong hoạt động ĐS tại CCT huyện Phú Xuyên hiện nay. Sau khi đánh giá được ưu và nhược điểm từ công tác quản lý thuế TNCN trong l nh vực ĐS, tác giả chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế và từ đó đề xuất những giải pháp nh m hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN trong l nh vực ĐS tại CCT huyện Phú Xuyên cho phù hợp với tình hình thực tế.
Các đề tài nghiên cứu trên tập trung nghiên cứu những biện pháp và định hướng hoàn thiện chính sách thuế TNCN ở Việt Nam, cũng như các địa phương nh m nâng cao vai trò của thuế TNCN, hoặc nghiên cứu về công tác quản lý thuế TNCN. Đây là những tài liệu hữu ích giúp tác giả trong quá trình thực triển khai đề tài nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về thực trạng quản lý thuế TNCN trong l nh vực ĐS tại Chi cục thuế quận Hà Đông, cũng như đề xuất những giải pháp nh m nâng cao hiệu quả quản lý thuế TNCN trong l nh vực ĐS tại CCT quận Hà Đông. Đây chính là khoảng trống mà luận văn đi sâu nghiên cứu.
Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập c nh n trong l nh v c ất động sản trên địa àn quận, huyện 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Thu Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh r ng thuế ra đời là một sự cần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước.
Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình, Nhà nước cần có nguồn vật chất để thực hiện những chỉ tiêu có tính chất xã hội. B ng quyền lực chính trị, Nhà nước thu một bộ phận của cải xã hội để có được nguồn vật chất đó. Quan hệ thu, nộp những nguồn vật chất này chính là thuế. Từ sự phân tích khái quát đó có thể cho thấy, thuế là một khoản thu của NSNN mang tính bắt buộc, không mang tính hoàn trả trực tiếp và được pháp luật quy định đối với các tổ chức kinh tế xã hội cũng như mọi thành viên trong xã hội.
Căn cứ vào góc độ tiếp cận, mà người ta đưa ra nhiều định ngh a về thuế khác nhau, như: Từ góc độ phân phối thu nhập, người ta đưa ra khái niệm thuế như sau: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nh m hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ NSNN) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Từ góc độ NNT, thuế được định ngh a: là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có ngh a vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại. Từ góc độ kinh tế học, thuế được định ngh a như sau: thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nh m thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước. 7 z Hệ thống chính sách thuế của Việt Nam được phát triển và hoàn thiện trong thời kỳ “đổi mới” (sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986).
Trước đó, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, thu NSNN chủ yếu từ kinh tế quốc doanh (chiếm tới 90% tổng số thu), thuế chỉ áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh dưới một số hình thức: thuế doanh nghiệp, thuế hàng hoá, thuế lợi tức, thuế nông nghiệp, thuế môn bài.vai trò của thuế trong quản lý điều tiết v mô nền kinh tế được sử dụng rất hạn chế. Thực hiện Chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010, Quốc hội đã ban hành Luật thuế TNCN vào tháng 11/2007 với hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, thay thế cho Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất và Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Thu thu nhập cá nh n Thuế TNCN lần đầu tiên ra đời ở Anh (1841), sau đến Nhật (1887), Đức (1889), Mỹ (1913) và Mỹ trở thành quốc gia có t suất thuế TNCN lớn nhất thế giới chiếm tới 35% - 60% tổng thu từ thuế vào NSNN. Ở Trung Quốc, thuế TNCN ra đời từ năm 1941 nhưng đến năm 1955 mới trở thành một sắc thuế độc lập.
Ở Pháp, thuế TNCN ra đời năm 1961, Hàn Quốc năm 1974…cho đến nay, theo thống kê của ERNST& YOUNG tại “the global Excutive”, hiện nay thế giới có hơn 136 nước áp dụng thuế TNCN. Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường đều coi thuế TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách và thực hiện công b ng xã hội. Thuế TNCN trên thế giới thông thường đánh vào cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh. Thuế này được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt.
Thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập nhận được từ nhiều nguồn khác nhau của các cá nhân trong xã hội, trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Chúng ta có khái niệm về thuế TTCN như sau“Thuế TNCN là một loại 8 z thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần”. Thuế TNCN đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đối tượng nộp thuế này là mọi dân cư trong nước và người nước ngoài có thu nhập phát sinh ở nước sở tại không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội. Ðồng thời, tùy theo tính chất của các khoản TNCN, người ta chia thu nhập làm hai loại: thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên để tính thuế cho phù hợp.
Tại Việt Nam, Luật thuế TNCN ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 và thay thế thuế chuyển quyền, thuế TNCN được hình thành là điều tất yếu khách quan và là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia. Tùy theo đặc thù của mỗi quốc gia, thuế TNCN được thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau. Thuế TNCN có các đặc điểm sau: - Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định.