Chương 1: Lý luận cơ bản về công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh; Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi; Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi trong thời gian đến. Tổng quan tài liệu nghiên cứu “Trong các năm qua, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về công tác quản lý thuế, cụ thê: Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh với đề tài “Quản lý thuế thu nhập doanh 11 nghiệp tại thành phô Đà Nẵng" của Thạc sỹ Ly Van Phi, Da ning, nam 2011. Luan văn đã chỉ ra những nguyên nhân, hạn chế còn tồn tại trong quản lý thuế và đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế TNDN tại Cục thuế TP. Đà Nẵng: Hoàn thiện nội dung quản lý thuế TNDN, tổ chức bộ máy quản lý và xây dung hệ thống thông tin quản lý và chính sách sử dụng cán bộ.
Đồng thời đề xuất một số kiến nghị đối với Nhà nước, Tổng cục thuế, các cấp chính quyền địa phương liên quan đến công tác quản lý thuế TNDN nói riêng và quản lý thuế nói chung. Luận văn chỉ mới tập trung phân tích đề xuất giải pháp quản lý cho một sắc thuế TNDN, chưa đi sâu phân tích một các toàn diện về quản lý thuế đối với lĩnh vực doanh nghiệp NQD. “Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố "Pleiku, tỉnh Gia Lai”, Luận văn Thạc sỹ của Trần Viết Trà, Đà nằng năm 2013. Luận văn tập trung phân tích các yếu tố có ảnh hưởng đến từng chức năng của quá trình quản lý thuế: từ công tác quản lý đối tượng nộp thuế, quản lý đăng ký kê khai thuế; công tác quản lý thuế GTGT; quản lý thu nhập chịu thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp; công tác hoàn thuế GTGT, kiểm tra thuế, phân tích sâu vào các tồn tại để tìm ra nguyên nhân làm ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế từ đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý thuế trên địa bàn TP.
Tuy nhiên, luận văn chưa đề xuất các giải pháp cụ thể đối với từng lĩnh vực kinh doanh đặc thù. Ngoài ra, nghiên cứu quản lý thuế nói chung có đề tài: “Mộ/ số giải pháp góp phan nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩ Kinh tế của Nguyễn Xuân Thành, TP.Hồ Chí Minh, năm 2006. Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý thuế và kiến nghị một số giải pháp nhằm gop phan nang cao hiệu quả công tác quản lý thuế. Đó là các giải pháp thực hiện các mục tiêu và nội dung cải cách cơ chế quản lý, tô chức bộ máy, đội ngũ cán bộ thuế, công nghệ quản lý thuế, cơ sở vật chất trang thiết bị.
Tuy nhiên, đề tài đề ra một số giải pháp mang tính chất vĩ mô, chưa đề ra các giải pháp cụ thể có hiệu quả đề các cơ quan thuế địa phương áp dụng. 12 Qua nghiên cứu các luận văn trên, các tác giả đã hệ thống hoá các lý luận về công tác quản lý thuế và đề xuất các những giải pháp có ý nghĩ thực tiễn cao, tuy nhiên những nghiên cứu trên còn bao quát, chưa đi vào nghiên cứu, đề ra giải pháp quản lý thuế từng ngành, từng lĩnh vực đặc thù như : xây dựng, dịch vụ ăn uống, khách sạn, nhà hàng, kinh doanh xăng dầu v. Để thực hiện đề tài, bản thân tác giả có tham khảo các công trình khoa học, những bài viết về đề tài quản lý thuế đã công bó., giúp hệ thống hoá được lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực nghiên cứu, những ưu, nhược điểm trong công tác quản lý, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới. LY LUAN CO BAN VE CONG TAC QUAN LY THUE DOI VOI DOANH NGHIEP NGOAI QUOC DOANH 1.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUÉ ĐÓI VOI DN NQD 1. Khái quát về doanh nghiệp NỌD. Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh Từ Đại hội Đảng lần VI (năm 1986), với chủ trương đổi mới nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã xác định phát triển nền kinh tế Việt Nam theo hướng kinh tế thị trường định hướng Xã ¡ Chủ nghĩa, với nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, trong đó có thành phần kinh tế Tư bản tư nhân. Qua các kỳ Đại hội Đảng lần IX, lần X, lần XI, đường lối phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế tiếp tục được khang dinh va định hướng rõ nét Từ đó, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (bao gồm kinh tế hợp tác, kinh tế Tư bản tư nhân, kinh tế hộ kinh doanh) phát triển mạnh.
Ngoài thành phần kinh tế cá thể, kinh tế hợp tác xã, xuất hiện thêm thành phần kinh tế tư bản tư nhân với các loại hình, như: công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân. Kinh tế ngoài quốc doanh phát triển còn góp phần quan trọng thực hiện các chủ trương khác của Đảng va Nha nước như chủ trương xóa đói giảm nghèo, phân bồ lại cơ cấu kinh tế, xoá bỏ dần sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miễn núi. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005[13], những doanh nghiệp mà trong đó Nhà nước sở hữu dưới 50% vốn điều lệ là Doanh nghiệp ngoài quốc doanh (trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần (mà trong đó Nhà nước sở hữu dưới 50% vốn điều lệ), Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và các đơn vị theo hình thức hợp tác xã.
'Theo luật doanh nghiệp Nhà nước được Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 20/04/1995, luật doanh nghiệp sửa đổi được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 12/06/1999, và luật khuyến khích đầu tư trong nước được Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 22/06/1994 có quy định: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. [13, trang 2] 14 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm toàn bộ những đơn vị kinh tế mang hình thức sở hữu phi Nhà nước về tư liệu sản xuất, những đơn vị kinh tế này dựa trên cơ sở do tư nhân (bao gồm một hoặc một tập thể các cá nhân) bỏ vốn đầu tư dưới mọi hình thức, nhằm mục đích chủ yếu là lợi nhuận và chịu sự chỉ phối của các chủ đầu tư. Các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế này rất đa dang, va tạo ra các thành phần kinh tế khác nhau. Có thể thấy rằng, các doanh nghiệp (dù thuộc loại hình doanh nghiệp nào), đều lấy lợi nhuận là mục tiêu, là thước đo hiệu quả của hoạt động SXKD, cùng hoạt động theo cơ chế thị trường có sự hướng dẫn của Nhà nước cùng tồn tại và cạnh tranh lành mạnh trong môi trường pháp lý.
Tuy nhiên, xét về góc độ quản lý, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý thuế, mỗi loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm riêng ảnh hướng không nhỏ đến công tác quản lý thu thuế, nhất là doanh nghiệp NQD. Đặc điểm cơ bản của DNNOD: Thứ nhất, đặc điểm về sở hữu, đây là đặc điểm khác biệt nhất của DNNQD. Đối với khu vực kinh tế NQD (trừkhối hợp tác), toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc chủ sở hữu. Chủ doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu doanh nghiệp chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chỉ phối nào từ các quy định của cơ quan Nhà nước hoặc từ cơ quan quản lý, do vậy, để thu được lợi nhuận họ luôn tìm mọi cách có lợi nhất, kể cả các hành vi trốn thuế, gian lận về thuế.
Thứ hai, đặc điểm về trình độ quản lý: So với các doanh nghiệp thuộc thành phân kinh tế Nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thì phần lớn những người chủ các doanh nghiệp NQD có trình độ quản lý chưa cao, chủ DN thường chưa được đào tạo chính quy về chuyên môn, kỹ năng quản lý, mà chủ yếu là tự học hoặc đúc rút từ kinh nghiệm thực tiễn. Do đó, hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp NQD nhìn chung còn thấp, chưa có tính cạnh tranh. Các DN hoạt động lĩnh vực sản xuất thì trình độ công nghệ, máy móc cũ kỹ, lạc hậu ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động và chất lượng hàng hoá cung ứng ra thị trường. 15 Thứ ba, đặc điểm về 3 thức tuân thủ pháp luật: Xuất phát từ trình độ còn hạn chế nêu trên, nên phần lớn các chủ doanh nghiệp có hiểu biết về pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng là rất thấp, dẫn đến ý thức tuân thủ chưa cao.
Thứ tư, DN NỌD tuy có số lượng nhiều nhưng qui mô vốn nhỏ: Số lượng các DNNQD đến thời điểm hiện nay rất nhiều, hoạt động sản xuất kinh doanh ở tat ca mọi lĩnh vực của nền kinh tế, từ sản xuất, gia công, chế biến, xây dựng, vận tải. đến thương nghiệp, dịch vụ và phân bố rộng trên ca nước. Các DN NQD dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nên nguồn vốn nhỏ, hạn chế; mặt khác, đa phần các DNNQD có thời gian hình thành và phát triển chưa lâu nên chưa có điều kiện để tích lũy vốn phục vụ tái đầu tư hoặc đầu tư mở rộng. Vai trò của DNNOD trong nên kinh tế quốc dân Mặc dù còn nhiều hạn chế như đã nêu, nhưng DNNQD có vai trò rất quan trong trong nén kinh té quéc dan, thé hién: ~ Là nhân tố chủ yếu thúc đây sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nhà nước không công nhận thị trường, giá cả, cũng không chấp nhận cạnh tranh, do đó doanh nghiệp không có yêu cầu nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm. Ngày nay, khi chấp nhận nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, nhất là trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải đổi mới phương thức quản lý, đổi mới về mẫu mã, chất lượng sản phẩm.